CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Blốc nhĩ thất và phương pháp tạo nhịp đường dẫn truyền. Blốc nhĩ thất 1.1 Hệ thống dẫn truyền trong tim. Năm 1893, Wilhelm His Jr, một bác sĩ tim mạch và giải phẫu học, đã phát hiện ra bó His.
Ông mô tả nó như một mô chuyên biệt trong tim để truyền các xung điện và giúp đồng bộ hóa sự co bóp của tâm thất.18 Nút xoang (còn gọi là nút xoang nhĩ): nhỏ, dẹt, hình dải elip chuyên biệt của cơ tim rộng khoảng 3mm, dài 15mm và dày 1mm. Nút xoang nằm ở sau trên vách tâm nhĩ phải, ngay chỗ nối của tĩnh mạch chủ trên và nhĩ phải. Các mô sợi của nút xoang hầu như không có các sợi cơ co lại, và mỗi sợi chỉ có đường kính 3 – 5µm, trái ngược với đường kính 10-15µm của các sợi cơ nhĩ xung quanh. Tuy nhiên, các sợi nút xoang kết nối trực tiếp với các sợi cơ tâm nhĩ, bởi vậy, bất cứ điện thế hoạt động nào bắt đầu từ nút xoang ngay lập tức lan ra khắp vách cơ tâm nhĩ.
Nút xoang là nút dẫn nhịp cho tim, nhận sự chi phối của sợi giao cảm và dây phó giao cảm (dây X). Nút nhĩ-thất: còn gọi là nút Aschoff-Tawara, là một cấu trúc nhỏ nằm ngay dưới lớp nội mạc của vách liên nhĩ, phía trên là lá vách của van ba lá, phía dưới là nội mạc của nhĩ phải. Bó His (HB): đi từ nút nhĩ-thất tới vách liên thất, chạy phía dưới vùng vách liên thất phần màng. Trong hầu hết các trường hợp nó tiếp tục theo phần bên trái của vách liên thất.
Một phần đáng kể của bó His nằm trong tâm nhĩ phải, phần xa hơn đi vào giữa thất phải và thất trái của vách liên thất phần màng và ngay dưới gốc động mạch chủ, rồi chia làm hai nhánh His phải và His trái. Năm 2005, Kawashima và Sasaki đã xuất bản bài báo nghiên cứu cấu trúc bó His ở 105 tử thi họ nhận thấy mối liên hệ giữa giải phẫu bó His và phần màng vách liên thất chia bó His thành 3 type.1) 4 Loại I là giải phẫu HB phổ biến nhất và xảy ra ở khoảng 47% số người. Với loại I, HB chạy dọc theo đường viền dưới của phần màng của vách liên thất và được bao phủ bởi một lớp sợi cơ tim mỏng. Bởi vì HB được bao phủ bởi một lớp sợi cơ tim mỏng, những bệnh nhân có giải phẫu type I tạo nhịp His không chọn lọc (NS- HBP) ở ngưỡng tạo nhịp cao do dẫn cả vùng cơ thất ngoài bó His.
Khi ngưỡng tạo nhịp thấp hơn, hình thái học chuyển sang tạo nhịp bó His chọn lọc (S-HBP), do không dẫn vùng cơ tim mà chỉ chọn lọc vào một mình bó His.1: Giải phẫu bó His Giải phẫu HB loại II được tìm thấy ở khoảng 32% số người.20 Trong biến thể này, HB chạy trong cơ liên thất dẫn đến tạo nhịp bó His có thể khó khăn. Tuy nhiên, khi đặt điện cực thành công, tạo nhịp với năng lượng cao dẫn đến tạo nhịp bó His không chọn lọc (tạo nhịp bó His và cơ thất phải), sau đó chuyển đổi luôn sang tạo nhịp thất phải khi giảm năng lượng. Bệnh nhân có giải phẫu HB loại II sẽ không bao giờ có S-HBP, bất kể vị trí của dây dẫn hoặc kinh nghiệm của bác sĩ cấy ghép. 5 Giải phẫu HB loại III chiếm 21%.
Trong giải phẫu loại III, bó His được gọi là bó nhĩ thất trần vì không có sợi cơ tim bao quanh, dẫn đến tạo nhịp chọn lọc bó His ở tất cả các đầu ra cho đến khi mất dẫn. Bó His được hình thành từ một nhóm tế bào cơ tim. Nó truyền các xung điện được tạo ra theo khoảng cách đều đặn bởi nút nhĩ thất đến tâm thất phải và trái. Bó His chạy dọc vách liên thất chia ra nhánh His phải và nhánh His trái, nhánh His trái tiếp tục chia thành bó nhánh trái trước và bó nhánh trái sau.
Nhánh trái bó His (LBB): bắt nguồn từ phần phân nhánh bó His, nằm ngay dưới phần màng của vách liên thất. Tất cả các sợi hình thành LBB nằm trên cùng một mặt phẳng tạo ra hình dạng giống như dải băng bên dưới nội mạc nằm ngay dưới phần vách liên thất giữa lá không vành và lá vành phải. Ban đầu nhánh bó trái hẹp nhất, đạt chiều rộng tối đa sau khi kéo dài khoảng 10-15 mm, sau đó phân chia thành nhánh bó trái trước (LAF) và nhánh bó trái sau (LPF) (hình 1. Gải phẫu nhánh bó His và nhánh bó trái.
Thành phần và sự phân bố nhánh trái bó His khác nhau đáng kể ở các cá thể khác nhau. Trong một số trường hợp không có thân chung LBB mà nhánh bó trái trước và trái sau xuất phát ngay đầu LBB, chạy vào cơ nhú trái trước và cơ nhú trái sau. Đôi khi, một số bệnh nhân xuất hiện thêm nhánh vách liên thất (LSF), nhánh vách thường tách ra từ nhánh trái sau, ít khi tách ra từ nhánh trái trước. Nhìn chung nhánh trái sau thường dày hơn và ngắn hơn nhánh trái trước.
Dựa 6 vào giải phẫu của nhánh vách liên thất chia nhánh trái làm 3 type (Type I, Type II, Type III).3 Giải phẫu nhánh vách liên thất (LSF) chia cấu tạo nhánh trái làm 3 nhánh LBB: nhánh trái, LAF: phân nhánh trái trước; LSF: nhánh vách; LPF: nhánh bó trái sau.2 Định nghĩa và phân loại blốc nhĩ thất. Bloc nhĩ thất (AVB) được định nghĩa là sự chậm trễ hoặc gián đoạn trong việc truyền xung động từ tâm nhĩ xuống tâm thất do sự suy giảm chức năng hoặc giải phẫu của hệ thống dẫn truyền. Rối loạn dẫn truyền này có thể thoáng qua hoặc vĩnh viễn. AVB chia làm 3 type dựa vào đặc tính dẫn truyền qua nút nhĩ thất (hình 1.
• AVB cấp I: chậm dẫn truyền từ tâm nhĩ xuống tâm thất (được định nghĩa là khoảng PR > 200 ms) mà không bị gián đoạn dẫn truyền. • AVB cấp II: dẫn truyền nhĩ thất theo kiểu không liên tục đến tâm thất, thường có tính chất chu kỳ. o AVB cấp II mobitz I (Wenkebach) được xác đinh trên điện tâm đồ bề mặt bằng đoạn PR kéo dài dần ra đến lúc không có dẫn truyền xuống thất, sau đó lặp lại theo chu kỳ tiếp theo. 7 o AVB cấp II mobitz II: Là do sự cố ngừng đột ngột không mong muốn của các tế bào His- Purkinje trong dẫn truyền xung điện.
Trên ECG khoảng PR không đổi theo từng nhịp, nhưng đột ngột có xung động từ nhĩ không truyền xuống thất qua nút nhĩ thất, dẫn đến thất không đập. o AVB cấp II mobitz II nguy hiểm hơn BAV cấp II mobitz I.4: Các dạng bloc nhĩ thất. • AVB cấp III: không có dẫn truyền từ nhĩ xuống thất, tần số nhĩ lớn hơn tần số thất. Trên điện tâm đồ bề mặt không có sự liên quan nhĩ thất.
• AVB độ cao: Hai hoặc nhiều sóng P bị chặn liên tiếp.3 Chỉ định cấy máy tạo nhịp ở bệnh nhân bị bloc nhĩ thất. Năm 2018 một liên ủy ban gồm ACC, AHA và Hội Nhịp tim Hoa kỳ (HRS) đã cập nhật khuyến cáo về chỉ định cấy máy cho những trường hợp bloc nhĩ thất.21 * Chỉ định cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn ở bệnh nhân bị bloc nhĩ thất. 8 Chỉ định loại I 1. Những bệnh nhân bị blốc nhĩ thất cấp II mobitz II, blốc độ cao, blốc nhĩ thất cấp III mắc phải không do các nguyên nhân sinh lý hoặc có thể điều trị được, tạo nhịp vĩnh viễn được chỉ định bất chấp có triệu chứng hay không.
Những bệnh nhân bị bệnh thần kinh cơ kết hợp với các rối loạn dẫn truyền, như loạn dưỡng cơ (ví dụ loạn dưỡng cơ typ I) hoặc hội chứng Keans-Sayre có blốc nhĩ thất cấp II hoặc cấp III hoặc có khoảng HV ≥ 70 ms, bất kể các triệu chứng, Chỉ định cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn với khả năng phá rung thêm vào nếu cần thiết. Những bệnh nhân rung nhĩ chậm có triệu chứng. Những bệnh nhân xuất hiện blốc nhĩ thất có triệu chứng do điều trị các bệnh lý khác theo khuyến cáo và không có lựa chọn khác thay thế và cần tiếp tục điều trị thì chỉ định tạo nhịp vĩnh viễn để tăng tần số tim và cải thiện triệu chứng. Chỉ định loại IIa 1.
Những BN bị bệnh cơ tim thâm nhiễm như sarcoidosis hoặc amyloidosis và blốc nhĩ thất cấp II mobitz II, blốc nhĩ thất độ cao, blốc nhĩ thất cấp III chỉ định cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn với khả năng phá rung thêm vào nếu cần thiết nếu khả năng sống sót >1 năm là hợp lý. Những BN có blốc nhĩ thất cấp I hoặc cấp II mobitz I (Wenckebach) và có triệu chứng do block nhĩ thất gây ra thì tạo nhịp vĩnh viễn là hợp lý (Mức bằng chứng: C). * Chỉ định cấy máy tạo nhịp bó His ở bệnh nhân bị bloc nhĩ thất. Năm 2018 hội rối loạn nhịp Hoa Kỳ (HRS) đã đưa ra khuyến cáo về chỉ định tạo nhịp bó His.
Năm 2021 hội tim mạch học Châu Âu (ESC) cũng đưa ra hướng dẫn về chỉ định cấy tạo nhịp bó His. Cấy máy tạo nhịp bó His được chỉ định trong các trường hợp. Blốc nhĩ thất độ cao với kỳ vọng tạo nhịp thất lớn hơn 20%. Blốc nhĩ thất cấp I với PQ dài (một mình hoặc kết hợp với blốc nhĩ thất cấp II, III hoặc suy nút xoang).
Bệnh nhân rung nhĩ chậm hoặc sau đốt nút nhĩ thất do rung nhĩ nhanh không khống chế được bằng thuốc. Nâng cấp tạo nhịp bó His ở người bệnh bị bệnh cơ tim do máy tạo nhịp. * Chỉ định tạo nhịp vùng nhánh trái bó His ở bệnh nhân bloc nhĩ thất. Tháng 5 năm 2023, Hội rối loạn nhịp Hoa Kỳ, Hội rối loạn nhịp Châu á Thái Bình Dương và Hội rối loạn nhịp châu Mỹ La Tinh đưa ra khuyến cáo về tạo nhịp sinh lý để phòng tránh và giảm thiểu suy tim.24 Trong đó đưa ra hướng dẫn tạo nhịp vùng nhánh trái bó His ở bệnh nhân blốc nhĩ thất.
Bệnh nhân có chỉ định cấy máy tạo nhịp vĩnh viễn với chức năng tâm thu thất trái 36-50%, người cần tạo nhịp thất phải. Tạo nhịp vùng nhánh bó trái được khuyến cáo mức độ IIa bằng chứng B để giảm nguy cơ bệnh cơ tim do tạo nhịp. Bệnh nhân có chỉ định tạo nhịp thất phải và có chức năng tim bình thường, có thể cân nhắc tạo nhịp sinh lý (LBBAP) để giảm nguy cơ bệnh cơ tim do tạo nhịp (IIb,C) 3. Bệnh nhân có chỉ định tạo nhịp và có LVEF 36-50%, người nhận tạo nhịp thất ít, có thể cân nhắc tạo nhịp đường dẫn truyền (LBBAP) thay cho tạo nhịp thất phải (IIb, C).2 Phương pháp tạo nhịp đường dẫn truyền.1 Định nghĩa các thể của tạo nhịp đường dẫn truyền.