Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN TIẾNG ANH THEO ĐỊNH HƯỚNG NĂNG LỰC HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài L.Stufflebean (1966), nghiên cứu mô hình CIPP được hình thành dựa trên sự kết hợp của đánh giá bối cảnh, đánh giá đầu vào, đánh giá quá trình và đánh giá tổng kết kết quả học tập. Theo tác giả đánh giá phải thực hiện thường xuyên, liên tục và kết hợp nhiều loại hình đánh giá trong đó coi trọng đánh giá thường xuyên, đánh giá quá trình [24].Scriven (1967) nghiên cứu về đánh giá đưa ra mô hình đánh giá không theo mục tiêu mà dựa vào dẫn chứng xác thực và hành vi thực hiện; R.Stake, nghiên cứu về đánh giá chất lượng dạy học, tác giả cho rằng để đánh giá chất lượng giáo dục, người ta tập trung đánh giá kết quả học tập của người học [32].
Từ sau những năm 1970 đến nay lý thuyết trắc nghiệm ra đời và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia trên thế giới. Bloom cùng George F. Cuốn sách này dành cho giáo viên, viết về kĩ thuật đánh giá kết quả học tập của học sinh. Nếu được áp dụng đúng cách việc đánh giá sẽ giúp giáo viên hỗ trợ học sinh cải thiện khả năng học tập.
Trọng tâm của cuốn sách này cũng chính là việc tăng cường khả năng học tập của học sinh. Cuốn sách không nhằm giải quyết các vấn đề liên quan đến việc lựa chọn và sử dụng các loại trí tuệ, năng lực tiềm ẩn của các bài kiểm tra thành tích đã được chuẩn hóa - loại hình thường được học sinh các trường tiến hành một đến hai lần một năm, mà hướng tới để hoàn thiện và sử dụng đúng cách một hệ thống các câu hỏi, các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn bài kiểm tra đánh giá quá trình học tập và các dạng bài kiểm tra khác do giáo viên tự làm được áp dụng cho học sinh hàng năm. Cuốn sách thông qua việc liên kết các kĩ thuật đánh giá tốt nhất, nhằm hỗ trợ các giáo viên sử dụng đánh giá như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và học. Ở Liên Xô cũ và các nước XHCN Đông Âu trước đây đã có nhiều tác giả nghiên cứu về kiểm tra đánh giá, song trên thực tế các công trình nghiên cứu chủ yếu bàn về kiểm tra đánh giá kiến thức học sinh thông qua các hình thức trắc nghiệm truyền thống như kiểm tra vấn đáp hoặc bài viết (trắc nghiệm, tự luận) chưa quan tâm đến việc kiểm tra đánh giá bằng hình thức trắc nghiệm khách quan.
Jody Zall Kusek (2005) nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập và đưa ra 10 bước tiến tới hệ thống giám sát và đánh giá dựa trên kết quả. Đánh giá kết quả học tập của học sinh được các tác giả nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhưng tất cả đều nhấn mạnh ý nghĩa và tầm quan trọng của kiểm tra, đánh giá kết quả học tập. Tác giả cho rằng đánh giá có tác dụng tạo động lực cho việc dạy và học phát triển. Các công trình nghiên cứu đều đề cập đến các bước xây dựng hoàn thiện cơ sở lí thuyết cơ sở thực tiễn và quy trình cho đánh giá kết quả học tập của người học.
Ông cho rằng đánh giá năng lực đòi hỏi nội dung đánh giá phải tích hợp kiến thức nội môn, liên môn, sáng tạo, liên hệ thực tiễn. Những ND đòi hỏi tích hợp kiến thức đồng môn, liên môn, sáng tạo, liên hệ thực tiễn [16]. Những nghiên cứu ở trong nước Nguyễn Bá Lãm (2003) nghiên cứu về đánh giá kết quả dạy học ở đại học đã phân tích tầm quan trọng của đánh giá trong giáo dục đại học, các hình thức và quy trình đánh giá kết quả dạy học ở đại học [21]. Nguyễn Đức Chính - Đinh Thị Kim Thoa (2005), nghiên cứu về vấn đề chuẩn đánh giá, vai trò của việc xác định mục tiêu trong đánh giá kết quả dạy học đề ra những yêu cầu về nội dung đánh giá đòi hỏi tích hợp kiến thức đồng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn môn, liên môn, sáng tạo, liên hệ thực tiễn, [9]; Nghiên cứu về kinh nghiệm dạy học ngoại ngữ ở một số nước trên thế giới và trong khu vực trong đó có công tác quản lý đã được đề cập đến khá chi tiết trong “Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008-2020”, Hà Nội, 2008.
Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu như: “Teaching English Cambridge University Press, 1995” của Adrian Doff; “Những vấn đề cơ bản về dạy học ngoại ngữ”, NXB ĐHQG Hà Nội, 2005. Trong các công trình này đã đề cập đến vấn đề đánh giá kết quả dạy học và sử dụng kết quả đánh giá để đổi mới quá trình dạy học. Nguyễn Đức Chính (2008), Nghiên cứu về thang đo trong đánh giá kết quả học tập của học sinh, tác giả phân tích tầm quan trọng của đánh giá và quy trình đánh giá, cách thức và hình thức, công cụ đo kết quả [10]. Tác giả Nguyễn Công Khanh cho rằng: có nhiều cách tiếp cận đánh giá kết quả dạy học như đánh giá định tính (qualitative assessment); đánh giá dựa trên kết quả thực hiện (performance-based assessment); đánh giá theo chuẩn (standard - based assessment); đánh giá theo năng lực (competence - based assessment); đánh giá theo sản phẩm đầu ra (outcome - based assessment) [20] Đánh giá kết quả dạy học theo cách tiếp cận NL là đánh giá theo chuẩn về sản phẩm đầu ra nhưng sản phẩm đó không chỉ là kiến thức, kĩ năng, mà chủ yếu là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ cần có để thực hiện nhiệm vụ học tập đạt tới một chuẩn nào đó.
Đánh giá NL dựa trên sự miêu tả các sản phẩm đầu ra cụ thể, rõ ràng tới mức người dạy, người học và các bên liên quan đều có thể hình dung tương đối khách quan và chính xác về thành quả của người học sau quá trình học tập. Đánh giá cũng cho phép nhìn ra tiến bộ của người học dựa trên mức độ thực hiện các sản phẩm [1], [2]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn Tô Thị Hoa (2015), nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT Vũ Thư tỉnh Thái Bình theo tiếp cận năng lực, chỉ ra tầm quan trọng của đánh giá theo tiếp cận năng lực, quy trình đánh giá và các hình thức đánh giá kết quả học tập của học sinh theo tiếp cận năng lực [16]. Nguyễn Thị Tính (2015) nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập trong đào tạo sinh viên sư phạm, đề xuất tiêu chí, quy trình, nội dung đánh giá kết quả học tập sinh viên [30].
Các nghiên cứu đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau của hoạt động đánh giá song tất cả đều có chung một mục đích hướng tới là đánh giá sự tiến bộ của người học qua từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học và cuối cùng là đánh giá chất lượng cả quá trình dạy học, giáo dục. Tuy nhiên các công trình trên dừng ở mức độ cung cấp cơ sở lý thuyết mà chưa đề cập đến kĩ thuật đánh giá và quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh THPT theo tiếp cận năng lực trong từng môn học cụ thể. Vì vậy, tác giả luận văn chọn đề tài để nghiên cứu với mong muốn nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Anh của học sinh theo tiếp cận năng lực ở các trường Trung học phổ thông huyện Thạch An, tỉnh Cao Bằng. Một số khái niệm công cụ 1.
Năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt [33, tr.114] thì năng lực có thể được hiểu theo hai nét nghĩa: - Chỉ một khả năng, điều kiện tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó đem lại hiệu quả cao. - Là một phẩm chất tâm sinh lí tạo cho con người có khả năng để hoàn thành một hoạt động nào đó có chất lượng cao. Hiểu theo quan điểm thứ nhất, năng lực là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của người Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc. Hiểu theo quan điểm thứ hai, năng lực là một một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống.
Như vậy, từ hai quan điểm và cách hiểu trên, chúng ta có thể hiểu năng lực vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Khía cạnh hiện thực của năng lực là cái mà ta có thể nhìn nhận được, đánh giá được thông qua hiệu quả công việc và cách thức tiến hành công việc của cá nhân. Một số cách hiểu về khái niệm “năng lực” khác như: Năng lực được xây dựng trên cơ sở tri thức, thiết lập qua giá trị, cấu trúc như là các khả năng, hình thành qua trải nghiệm/củng cố qua kinh nghiệm, hiện thực hóa qua ý chí (John Erpenbeck 1998). Quan niệm này tác giả đã khẳng định năng lực của con người có được dựa trên cơ sở kiến thức, kinh nghiệm, thái độ và tư chất của mỗi cá nhân cũng như mức độ tham gia trải nghiệm thực tế của cá nhân đó trong hoạt động.
Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể (OECD, 2002). Tác giả đã nhận mạnh khía cạnh hiệu quả công việc của năng lực. Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống. Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001).
Quan niệm này tác giả khẳng định năng lực không chỉ bao gồm yếu tố kiến thức, kỹ năng và tư chất mà còn bao gồm cả động cơ, thái độ, ý chí của con người.