Đặt vấn đề Nông thôn Việt Nam là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về thành phần tộc ngƣời, về văn hóa, là nơi bảo tồn, lƣu giữ các phong tục, tập quán của cộng đồng, là nơi sản xuất quan trọng, làm ra các sản phẩm cần thiết cho cuộc sống con ngƣời. Trong xu thế phát triển hiện nay, không thể có một nƣớc công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn còn lạc hậu và đời sống nông dân còn thấp. Vì vậy, xây dựng NTM đƣợc Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam cho là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của đất nƣớc. Xây dựng nông thôn trong từng giai đoạn và từng thời kỳ là một vấn đề luôn đƣợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc.
Sau hơn 25 năm "Đổi mới" nông thôn ở nƣớc ta đã liên tục phát triển góp phần quan trọng ổn định tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nhân dân. Tại cuộc họp BCĐ Trung Ƣơng Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, Phó Thủ tƣớng Vũ Văn Ninh đã đồng ý với nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2015 của Chƣơng trình, cần phát huy kết quả 6 tháng đầu năm, triển khai khẩn trƣơng, bổ sung các giải pháp đẩy mạnh phát triển sản xuất, tái cơ cấu ngành nông nghiệp gắn với xây dựng NTM, từng bƣớc nâng cao hơn nữa về số lƣợng và chất lƣợng; phát triển các mô hình phát triển sản xuất, liên kết sâu với doanh nghiệp, nhằm gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp; tập trung xử lý những tồn tại, đôn đốc các tỉnh kịp thời phân bổ vốn cho các huyện, xã; có biện pháp chỉ đạo tập trung quyết liệt đối với 5 tỉnh chƣa có xã đạt chuẩn NTM là Điện Biên, Sơn La, Cao Bằng, Bắc Kạn và Đắc Nông. Tuy vậy hiện nay đang xuất hiện nhiều thách thức mới trong nông nghiệp, nông dân và nông thôn ảnh hƣởng tới sự phát triển bền vững của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn. Thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng (khoá X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
Thực hiện Quyết định số 2005/QĐ – UBND ngày 07 tháng 06 năm 2010 của UBND tỉnh Thanh Hóa về phê duyệt đề án xây dựng NTM tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2010 – 2020. Thực hiện Quyết định số 1757/QQĐ – UBND của UBND huyện Cẩm Thủy ngày 15 tháng 12 năm 2010 về xây dựng NTM trên địa bàn huyện. n 2 Thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia của Đảng, Nhà nƣớc và xuất phát từ thực tiễn đã xã Cẩm Tân tiến hành công tác xây dựng NTM nhằm đƣa xã đến năm 2015 có nền nông nghiệp bền vững, nông thôn hiện đại, văn minh, nông dân có đời sống vật chất và tinh thần phát triển, không quá chênh lệch với đô thị và có đóng góp hiệu quả vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hoá thành phố. Căn cứ vào tình hình thực tế ở địa phƣơng, đƣợc sự đồng ý của Ban Chủ nhiệm Khoa Quản lý Tài nguyên – trƣờng Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dƣới sự hƣớng dẫn trực tiếp của thầy giáo – Th.S Nguyễn Qúy Ly, em tiến hành thực hiện đề tài : “ Đánh giá kết quả công tác thực hiện chương trình xây dựng NTM tại xã Cẩm Tân huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 - 2015 ”.
Mục đích của đề tài Đánh giá một cách khách quan về kết quả chƣơng trình xây dựng NTM tại địa phƣơng và từ đó đề xuất các giải pháp hợp lý, mang tính chất khả thi cao để chƣơng trình thực hiện xây dựng NTM ở xã Cẩm Tân huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa đạt hiệu quả cao nhất. Mục tiêu của đề tài - Hệ thống hóa cơ sở lí luận và thực tiễn về mô hình NTM và xây dựng NTM ở nƣớc ta hiện nay. - Tìm hiểu và đánh giá công tác thực hiện mô hình và quy trình xây dựng NTM ở xã Cẩm Tân huyện Cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa giai đoạn 2013 – 2015. - Rút ra đƣợc những ƣu – nhƣợc điểm , các vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện chƣơng trình NTM.
- Phân tích chỉ ra đƣợc các nguyên nhân chủ yếu , thiết yếu và những yếu tố ảnh hƣởng đến quá trình xây dựng NTM ở địa phƣơng. - Đề xuất định hƣớng và các giải pháp đẩy mạnh quá trình xây dựng NTM trên địa bàn xã ở những năm tiếp theo. Yêu cầu của đề tài - Cần nắm vững các quy định, nghị quyết, thông tƣ ,… của Đảng và Nhà nƣớc ban hành. Cũng nhƣ nắm vững các quy định trong Luật Đất Đai , các luật có liên quan.
- Phân tích rõ ràng và cụ thể từng chỉ tiêu, tiêu chí NTM mà địa phƣơng đã làm đƣợc và các hạn chế còn tồn tại. - Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực. - Đối tƣợng đƣợc lựa chọn phỏng vấn là đại diện các tầng lớp , các lứa tuổi làm việc ở nhiều ngành nghề khác nhau. n 3 - Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi , bộ câu hỏi phải dễ hiểu và đầy đủ các thông tin cần thiết cho việc đánh giá.
- Các số liệu, tài liệu phải phản ánh chính xác các yếu tố ảnh hƣởng ở thời điểm trƣớc và sau khi xây dựng NTM để từ đó thấy đƣợc sự biến chuyển. - Đề xuất giải pháp , các đóng góp đƣa ra phù hợp với địa phƣơng và phải có tính khả thi cao. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập : Việc hoàn thành đề tài sẽ là cơ hội cho sinh viên củng cố kiến thức đã học, đồng thời cũng là bƣớc đầu tạo cho sinh viên có cơ hội tiếp xúc với môi trƣờng công tác sau này , có thêm một số kĩ năng cần thiết và bổ ích. Là tài liệu tham khảo cho khoa Quản lý tài nguyên, nhà trƣờng và các sinh viên quan tâm.
-Ý nghĩa thực tiễn : Đề tài đánh giá , phân tích tìm ra những hiệu quả , yếu tố tích cực khi thực hiện xây dựng NTM cũng nhƣ những tồn tại bất cập cản trở sự phát triển của địa phƣơng. Từ đó có những đóng góp nhanh chóng , kịp thời và phù hợp với thực tế để khắc phục những khó khăn nhằm thực hiện tốt chƣơng trình xây dựng NTM, cải thiện đời sống của nhân dân trong xã. Kết quả nghiên cứu sẽ giúp các địa phƣơng khác có thể nhìn nhận , khai thác và áp dụng, phát huy những điểm mạnh, điểm yếu từ đó có hƣớng đi phù hợp, đạt hiệu quả cao. n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm nông thôn Nông thôn đƣợc coi nhƣ là khu vực địa lý, nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó, có quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trƣờng và tài nguyên thiên nhiên cho hoạt động SXNN. Hiện nay vẫn chƣa có khái niệm chuẩn xác về nông thôn và còn có nhiều quan điểm khác nhau. Khái niệm về nông thôn, ngƣời ta thƣờng so sánh nông thôn với đô thị.
Có ý kiến cho rằng, khi xem xét nông thôn dùng chỉ tiêu mật độ dân số, số lƣợng dân cƣ ở nông thôn thấp hơn so với thành thị. Có quan điểm lại cho rằng chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng thành thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu tiếp cận thị trƣờng, phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn vì cho rằng vùng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trƣờng thấp hơn so với đô thị. Một quan điểm khác lại cho rằng, vùng nông thôn là vùng có dân cƣ làm nông nghiệp là chủ yếu tức là nguồn sinh kế của cƣ dân nông thôn trong vùng là từ hoạt động SXNN.
Những ý kiến này chỉ đúng trong từng khía cạnh cụ thể và từng nƣớc nhất định, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế. Nhƣ vậy khái niệm nông thôn chỉ có tính chất tƣơng đối, nó có thể thay đổi theo thời gian và theo tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam chúng ta có thể hiểu : Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cƣ dân, trong đó có nhiều nông dân. Tập hợp cƣ dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế - văn hóa – xã hội và môi trƣờng trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hƣởng của các tổ chức khác[3].
Khái niệm mô hình NTM Mô hình NTM là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu cấu trúc nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn đƣợc xây dựng so với mô hình nông thôn cũ (truyền thống, đã cũ) ở tỉnh tiên tiến về mọi mặt [3]. Sự cần thiết phải xây dựng NTM ở nước ta n 5 Có thể nói từ khi thực hiện đƣờng lối đổi mới, chủ trƣơng, chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đảng và Nhà nƣớc ta có những thay đổi căn bản. Những thành tựu đạt đƣợc trong phát triển nông nghiệp, nông thôn thời kì đổi mới là rất to lớn tuy nhiên nền nông nghiệp và nông thôn nƣớc ta vẫn còn những tiềm ẩn mâu thuẫn, thách thức và bộc lộ những hạn chế không nhỏ nhƣ : Thứ nhất : Nông thôn phát triển thiếu quy hoạch và mang tính chất tự phát : - Hiện nay nông thôn phát triển thiếu quy hoạch , tự phát và có khoảng 23% xã có quy hoạch nhƣng thiếu đồng bộ, tầm nhìn ngắn chất lƣợng chƣa cao. - Cơ chế quản lý phát triển theo quy hoạch còn yếu.
- Xây dựng tự phát, kiến trúc cảnh quan làng quê bị pha tạp , lộn xộn, nhiều nét đẹp văn hóa truyền thống dần bị mai một. Thứ hai: Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn lạc hậu không đáp ứng được yêu cầu phát triển lâu dài: Thủy lợi còn chƣa đáp ứng đủ nhu cầu SXNN và dân sinh. Tỷ lệ kênh mƣơng do xã quản lý đƣợc kiên cố hóa mới đạt 25%. Giao thông chất lƣợng thấp không có quy chuẩn, chủ yếu phục vụ dân sinh, nhiều vùng giao thông chƣa phục vụ tốt sản xuất, lƣu thông hàng hóa, phần lớn chƣa đạt chuẩn quy định.