Mở đầu Phần 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hoạt động tập huấn kỹ thuật cho hộ nông dân Phần 3. Phương pháp nghiên cứu Phần 4. Kết quả nghiên cứu Phần 5.
Kết luận và kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2. Một số khái niệm 2. Khái niệm cao su tiểu điền Trong ngành cao su Việt Nam và trên thế giới có nhiều hình thức trồng khác nhau.
Xét trên quy mô diện tích thì có cao su “đại điền” và cao su “tiểu điền”. Cao su đại điền là cao su có quy mô diện tích lớn, tập trung chủ yếu ở các công ty, các doanh nghiệp, các nông trường. có diện tích vài trăm đến vài chục ngàn ha. Còn cao su tiểu điền là cao su có quy mô diện tích nhỏ, phân tán từ một đến vài chục ha, được trồng chủ yếu ở các hộ nông dân.
Cao su tiểu điền là vườn cao su thuộc sở hữu của nông dân, do nông dân tự bỏ vốn ra đầu tư hoặc do các tổ chức cho nông dân vay vốn phát triển cao su nhân dân (Mai Văn Hùng, 2012). Cao su tiểu điền có quy mô nhỏ với vườn cây có diện tích từ 1-10 ha. Không giống như các doanh nghiệp nhà nước, nhiều tiểu điền thiếu vốn đầu tư và/hoặc thiếu kiến thức kỹ thuật và có kỹ thuật canh tác yếu. Điều này cho thấy khả năng phát triển và năng suất của khu vực tiểu điền vẫn còn hạn chế (MeKong economic, 2014).
Khái niệm hộ nông dân Khái niệm về hộ: Có rất nhiều khái niệm về hộ được đưa ra: theo Martin (1988) thì hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động xã hội khác. Theo Harris, ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học tổng hợp Susex (Luân Đôn – Anh) cho rằng: “ Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo ra nguồn lao động”. Theo Raul Iturna, giáo sư trường đại học tổng hợp Liobon khi nghiên cứu cộng đồng nông dân trong quá trình quá độ ở một số nước Châu Á đã chứng minh: “Hộ là một tập hợp nhừng người cùng chung huyết tộc có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra vật phẩm để bảo tồn chính bản thân họ và cộng đồng”. Theo từ điển ngôn ngữ của Mỹ (Oxford Press – 1987) có nghĩa “Hộ là tất cả những người cùng chung sống dưới một mái nhà.
Nhóm người đó bao gồm 5 những người cùng chung huyết tộc và người làm ăn chung”. Hộ gia đình mà các thành viên cùng đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó; hộ gia đình mà đất ở được giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó. Hộ gia đình bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung. Những người nầy có thể có hoặc không có quỹ thu, chi chung; có thể có hoặc không có mối quan hệ ruột thịt.
Trong một nhà hay một căn hộ có thể có một hoặc nhiều hộ, mỗi hộ được coi là một đơn vị điều tra. Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên trong gia đình thỏa thuận là tài sản chung của hộ. Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 định nghĩa khái niệm hộ gia đình là chủ thể của quan hệ dân sự khi các thành viên trong một gia đình có tài sản chung, cùng có quyền chiếm hữu sử dụng, định đoạt và cùng có trách nhiệm dân sự đối với khối tài sản đó. Như vậy, hộ gia đình nhất thiết phải có mối quan hệ về huyết thống, quan hệ hôn nhân và quan hệ về nuôi dưỡng (quan hệ về cha mẹ nuôi và con nuôi).
Khái niệm nông hộ: Nông hộ được hiểu là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình và sản xuất. Luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia một phần vào thị trường với mức độ chưa hoàn chỉnh. Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa là một đơn vị tiêu dùng. Như vậy, hộ nông dân không phải là một đơn vị kinh tế độc lập tuyệt đối toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thông kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân.
Khi trình độ phát triển lên mức cao của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thị trường xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong một vùng, một nước. Điều này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay. Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở 6 nông thôn trong độ tuổi lao động theo qui định của pháp luật (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) có khả năng lao động. Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm.
Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ của công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm ở nông thôn. Khái niệm tập huấn kỹ thuật Tập huấn là phương pháp trình bày với nông dân về một chuyên đề nào đó để giúp họ hiểu rõ và áp dụng đúng. Nói cách khác giảng dạy là nghệ thuật giúp người khác thay đổi suy nghĩ, thay đổi thái độ. Theo tài liệu tập huấn của Hội thú y Việt Nam: Tập huấn là một quá trình dạy và học nhằm giúp cho người học làm được những công việc của họ mà trước đó họ chưa làm được.
Vai trò, ý nghĩa của tập huấn kỹ thuật cho hộ nông dân trồng cao su 2. Vai trò của tập huấn kỹ thuật cho hộ nông dân trồng cao su Hướng dẫn, giúp đỡ người dân áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào quá trình sản xuất. Đây là nhiệm vụ hàng đầu và có vai trò vô cùng quan trọng. Có thể nói, việc tập huấn kỹ thuật cho các hộ nông dân là cả một quá trình, đòi hỏi người làm công tác tập huấn không chỉ giỏi về chuyên môn nghiệp vụ mà phải có kinh nghiệm thực tế.
Như vậy mới có thể vận động, lôi cuốn nhiều người dân cùng tham gia và áp dụng, từ đó nâng cao năng suất và chất lượng cho sản phẩm nông nghiệp, đồng thời góp phần vào xây dựng nông thôn mới một cách bền vững. Vì vậy, nhu cầu hướng dẫn và chuyển giao đang là nhu cầu cần thiết hiện nay (Vũ Hùng và Đinh Đức Thuận, 2002). Chuyển giao kiến thức, đào tạo kỹ năng, trợ giúp nâng cao vật chất, kỹ thuật cho người dân. Có thể nói số lượng người đói, nghèo hiện nay chiếm phần đông là người nông dân, sống ở nông thôn và làm nghề nông.
Do đó, hoạt động tập huấn hướng vào việc chuyển giao kiến thức, đào tạo kỹ năng, trợ giúp nâng 7 cao vật chất, kỹ thuật cho người dân để họ vươn lên sản xuất, từ đó nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và trình độ dân trí. Như vậy, tập huấn kỹ thuật đã trực tiếp tham gia vào quá trình xóa đói, giảm nghèo cho người dân, Tư vấn giúp các hộ nông dân vượt qua khó khăn: Căn cứ vào nguyện vọng của người dân, những khó khăn mà họ gặp phải, người làm công tác tập huấn sẽ tư vấn giúp họ vượt qua khó khăn, hướng dẫn họ cách làm, cách khai thác, chăm sóc và cạo mủ cao su để họ thu được nhiều sản phẩm hơn, chất lượng sản phẩm tốt hơn trên cơ sở đó tăng thu nhập cho gia đình họ, từng bước vươn lên cuộc sống no đủ hơn. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, nhiều hộ nông dân tuy có đủ vốn, lao động, kinh nghiệm sản xuất, xong chưa nắm được những kiến thức cơ bản về sản xuất hàng hóa, về thị trường tiêu thụ. Do vậy, người tập huấn cần trang bị cho họ những kiến thức này để họ tự tin bước vào thị trường.
Lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật ở các Viện, trường, trung tâm nghiên cứu khoa học, các đơn vị đào tạo không những có trình độ chuyên môn cao mà còn có tâm huyết với nghề. Đây là lực lượng cơ bản tạo ra khoa học công nghệ mới để chuyển giao tới người dân, giúp nông dân đẩy mạnh sản xuất. Tạo việc làm và tăng thu nhập: Trong điều kiện hiện nay phát triển cao su tiểu điền là giải pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm, mang lại thu nhập cao và ổn định cho người lao động ở nông thôn, góp phần xóa đói giảm nghèo một cách bền vững. Ở các vùng nông thôn, khi dân số và lao động tăng nhanh, diện tích đất canh tác bình quân đầu người thấp và ngày càng bị thu hẹp, việc canh tác một số cây trồng ngắn ngày không đúng kỹ thuật nhất là đối với đất dốc, làm đất bạc màu và bị xói mòn, năng suất cây trồng giảm, thu nhập của người lao động thấp, thời gian nông nhàn hay tỷ lệ thất nghiệp cao.
Cao su là cây công nghiệp lâu năm, đồng thời cũng là loại cây rừng, vì vậy canh tác cao su đúng kỹ thuật sẽ góp phần cải tạo đất, cải tạo môi trường sinh thái, giải quyết việc làm và mang lại thu nhập cao, bền vững cho các hộ cao su tiểu điền. Làm tăng lượng cao su cho tiêu dùng và xuất khẩu: Tập huấn kỹ thuật cao su tiểu điền góp phần làm tăng lượng cao su cho tiêu dùng và xuất khẩu: Tập huấn kỹ thuật Phát triển cao su tiểu điền là giải pháp quan trọng nhằm huy động tối đa các nguồn lực sẵn có ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa như đất đai, lao động.