CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Một số khái niệm sử dụng Bảo hiểm y tế : - Là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo qui định của Luật BHYT [25]. - Là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau [38]. Thẻ bảo hiểm y tế: Là thẻ được cấp cho người tham gia bảo hiểm y tế và làm căn cứ để được hưởng các quyền lợi về bảo hiểm y tế theo qui định của Luật BHYT [25]. Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu: Là cơ sở khám bệnh chữa bệnh đầu tiên theo đăng ký của người tham gia bảo hiểm y tế và được ghi trong thẻ BHYT [25].
Quỹ bảo hiểm y tế: Là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng BHYT và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia BHYT, chi phí quản lý và các khoản chi hợp pháp khác [25].2 Tình hình Bảo hiểm y tế trên Thế giới và tại Việt Nam 1.1 Tình hình Bảo hiểm y tế trên Thế giới: Nhằm mục tiêu đảm bảo chăm sóc sức khỏe cho người dân với chất lượng tốt nhất, chính phủ các nước trên thế giới đã đưa ra các chính sách về BHYT phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của nước mình. Tại Đức, năm 1883, thủ tướng đầu tiên Bismarch đã thiết lập hệ thống BHYT đầu tiên trên Thế giới dành cho công nhân khu công nghiệp có mức lương thấp hơn một mức nhất định. Năm 1911, BHYT tại Đức được thực hiện bắt buộc với người làm công ăn lương, học sinh … Năm 2006, có 89,5% người dân Đức tham gia 5 BHYT [43]. Năm 2009, tổng chi phí chi cho BHYT tại Đức lên đến 7,12% GDP [42].
Không giống như các nước phát triển khác trên Thế giới, Mỹ không có hệ thống BHYT toàn dân trừ hai tổ chức Medicare (dành cho người tuổi trên 65) và Medicaid (dành cho người có thu nhập thấp, trẻ em, người già, phụ nữ…). Tham gia BHYT, trẻ em được khám chữa bệnh miễn phí hoặc chỉ phải trả chi phí thấp. Đặc biệt, tại mỗi tiểu bang của Mỹ, đều có chính sách BHYT khác nhau để phù hợp với điều kiện của từng bang [39]. Tại Nhật Bản, năm 1961, BHYT bắt buộc được triển khai toàn dân.
Có hai chương trình bảo hiểm chính: BHYT quốc gia và BHYT cho người làm công ăn lương. Tại đây, bệnh nhân thực hiện chương trình cùng chi trả chi phí KCB theo các mức khác nhau: người lao động đóng 30%, công chức đóng 20%, người hưởng lương đóng 10%. Tuy nhiên, sau 40 năm thực hiện, Nhật Bản lâm vào khủng hoảng mất cân đối thu chi. Đến năm 2008, để cải thiện tình hình trên, chính phủ Nhật Bản đang thực hiện đồng thời 3 chương trình: sử dụng thuốc hợp lý, thay đổi thanh toán theo dịch vụ bằng phương thức khác, đó là khám chữa bệnh theo tuyến [49].
Tại Hàn Quốc, năm 1987, chính phủ ban hành Luật BHYT bắt buộc toàn dân. Năm 1989, toàn quốc có gần 100% người dân sử dụng BHYT. Năm 1996, mức phí cho BHYT là 592 USD/người/năm. Năm 1997, 3% người dân Hàn Quốc được cấp thẻ BHYT dành cho người nghèo, người lao động đóng 2 – 8% thu nhập, còn lại là chủ sử dụng lao động đóng.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ 30% mức phí. Những năm gần đây, BHYT tại Hàn Quốc vẫn đang gặp khó khăn, đến năm 2010 ước tính bội chi là 3 tỷ USD [44]. Phương thức y tế hợp tác xã (CMS) của Trung Quốc được thế giới biết đến như một mô hình BHYT tự nguyện ở nông thôn mang một dấu ấn riêng. Từ năm 1953, CMS được chia thành hai giai đoạn.
Giai đoạn cũ - giai đoạn hợp tác xã nhà nước với độ bao phủ đạt 95% dân số vào cuối những năm 1970 nhưng sau đó bị đổ vỡ do ảnh hưởng của nền kinh tế thị trường vào những năm 1980. CMS bước sang giai đoạn mới, tháng 7/2003, hệ thống bảo hiểm đã bao phủ được 300 quận/huyện [48]. Năm 2010, chương trình đã bao phủ được hơn 93% người dân nông thôn [40].2 Tình hình Bảo hiểm y tế tại Việt Nam 1.1 Quá trình hình thành Nghị định 299/HĐBT ngày 15/8/1992 ban hành điều lệ BHYT đánh dấu sự ra đời của BHYT tại Việt Nam. Nghị định nêu rõ, giai đoạn 1992 – 1998, đối tượng được tham gia bảo hiểm là người làm công ăn lương, nghỉ hưu mất sức …[19] Ngày 13/8/1998, Nghị định 58/1998/NĐ–CP của Chính phủ về việc ban hành Điều lệ BHYT thay thế Nghị định 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ).
Điều lệ trong Nghị định cũng đã mở rộng đối tượng tham gia BHYT, quyền lợi khám chữa bệnh của người dân được nâng cao, thực hiện chính sách bảo hiểm “cùng chi trả”. Quỹ BHYT chi trả 80% chi phí khám chữa bệnh theo giá viện phí, 20% còn lại người bệnh tự trả cho cơ sở khám chữa bệnh. Người có thẻ BHYT chỉ được hưởng chế độ BHYT khi: Khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế đã đăng ký trên thẻ để quản lý và chăm sóc sức khỏe; Khám, chữa bệnh tại cơ sở y tế khác theo giới thiệu chuyển viện phù hợp với tuyến chuyên môn kỹ thuật theo quy định của Bộ Y tế; Khám, chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở y tế nào của Nhà nước trong trường hợp cấp cứu [12]. Ngày 1/07/2005 Nghị định của Chính phủ số 63/2005/ NĐ – CP ban hành Điều lệ BHYT và thay thế Nghị định số 58/1998/NĐ-CP của Chính phủ.
Bảo hiểm y tế quy định trong Điều lệ này là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân, để thanh toán chi phí khám, chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế khi ốm đau.Trong điều lệ còn quy định bên cạnh đối tượng là học sinh, người làm công ăn lương, người già, BHYT đã có sự tham gia của hộ gia đình… Người dân được thăm khám, xét nghiệm tại các cơ sở KCB công lập và tư nhân có đăng ký cung cấp KCB BHYT [13]. Luật BHYT 25/2008/QH12 có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 nêu rõ đối tượng tham gia bảo hiểm (toàn dân), các hình thức BHYT, chi phí cho BHYT và quy định sử dụng thẻ BHYT trong công tác KCB tại các cơ sở y tế công lập trên cả nước [25]. Nghị định số 62/2009/NĐ-CP ngày 27/7/2009 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo hiểm y tế. Theo Nghị định này, người tham gia 7 bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại các Điều 26, 27 và 28 Luật Bảo hiểm y tế thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng như sau: 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng là sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân, người có công với cách mạng và trẻ em dưới 6 tuổi; 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại tuyến xã; 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong trường hợp tổng chi phí của một lần khám bệnh, chữa bệnh thấp hơn 15% mức lương tối thiểu; 95% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng là người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng, người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng theo quy định của pháp luật và người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; 80% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với các đối tượng khác; phần còn lại do người bệnh tự thanh toán với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [16].
Cũng theo Nghị định này, người tham gia bảo hiểm y tế khi đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ban đầu hoặc khám bệnh, chữa bệnh không theo tuyến chuyên môn kỹ thuật do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định (trừ trường hợp cấp cứu) thì được quỹ bảo hiểm y tế thanh toán một phần chi phí khám bệnh, chữa bệnh [16].2 Kết quả đạt được Sau khi các văn bản hướng dẫn thực hiện luật BHYT được ra đời và chỉ đạo đến từng tuyến y tế, số lượng người tham gia bảo hiểm y tế không ngừng được tăng lên. Năm 2001 mới có 16 triệu người tham gia bảo hiểm y tế (trong đó người tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện có khoảng 4 triệu người), chiếm hơn 20% dân số cả nước thì năm 2009 đã có hơn 50,06 triệu người tham gia bảo hiểm y tế, chiếm trên 58,2% dân số cả nước. Chủ yếu tăng là do sử dụng Ngân sách Nhà nước mua thẻ BHYT và cấp thẻ miễn phí cho người nghèo, người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn, trẻ em dưới 6 tuổi và nhiều nhóm đối tượng dễ bị tổn thương khác. Đặc biệt Nhà nước đã thực hiện chương trình hỗ trợ một phần đáng kể phí đóng bảo hiểm y tế (50% phí đóng bảo hiểm y tế ở mức tối thiểu) 8 cho người cận nghèo, học sinh sinh viên … Song song với các chương trình hỗ trợ phí tham gia bảo hiểm y tế, các chương trình tuyên truyền, truyền thông về lợi ích của bảo hiểm y tế đối với bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng cũng được triển khai trên các phương tiện truyền thông, xuống từng địa phương, vào từng trường học.
Tính đến năm 2010 đã có 14,96 triệu người nghèo và dân tộc thiểu số, gần 9,89 triệu học sinh, sinh viên tham gia BHYT, còn trẻ em dưới 6 tuổi là 8,125 triệu [20].1 Số người tham gia BHYT qua các năm [20] (Đơn vị:1.000đ) Tổng số Tỷ lệ % BHYT BHYT Trẻ em BHYT bắt Năm người có dân số có tự Người dưới 6 buộc thẻ BHYT thẻ BHYT nguyện nghèo tuổi 2005 23.890 Cùng với sự tăng lên của đối tượng tham gia BHYT thì nguồn thu từ bảo hiểm y tế cũng tăng nhanh do mở rộng đối tượng tham gia, tăng mức đóng và tăng lương. Số thu bảo hiểm y tế năm 2001 là 1.151 tỷ đồng và năm 2009 tăng lên 13.448 tỷ đồng, năm 2010 là 26.