phần mở đầu, nội dung chính của khoá luận gồm 3phan: Chuong 1: CO SO LY LUAN CHUNG VE LOGISTICS VA DICH VU LOGISTICS Chuong 2: TONG QUAN VE CONG TY CO PHAN VAN TAI SEAHORSE Chương 3: ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CUNG CÁP DỊCH VỤ LOGISTICS VA MOT SO GIAI PHAP NANG CAO HIEU QUA HOAT DONG KINH DOANH DICH VU LOGISTICS TAI CONG TY CO PHAN VAN TAI SEAHORSE CHUONG 1: CO SO LY LUAN CHUNG VE LOGISTICS VA DICH VU LOGISTICS 1. Khái niệm và sự phát triển của logistics Logistics là một thuật ngữ có nguồn gốc Hilap - logistikos - phản ánh môn khoa học nghiên cứu tính quy luật của các hoạt động cung ứng và đảm bảo các yếu tố tổ chức, vat chat va kỹ thuật (do vậy, một số từ điển định nghĩa là hậu cần) đề cho quá trình chính được thực hiện theo mục tiêu. Logistics không phải là một lĩnh vực mới. Sau mùa gặt, người dân đã biết tích trữ lương thực từ xa để sử dụng trong lúc thu hoạch.
Tơ lụa từ Trung Quốc đã lan rộng khắp thế giới. Do hệ thống giao thông và bảo vệ chưa phát triển, các hoạt động thông tin liên lạc bị hạn chế. Ngay cả ngày nay, ở một số nơi trên thế giới, vẫn còn những cộng đồng sống theo phương thức tự cung tự cấp, không có trao đổi hàng hóa bên ngoài. Nguyên nhân chính là do thiếu hệ thống logistics hoàn chỉnh và giá rẻ (thiếu hệ thống logistics hoàn chỉnh và giá rẻ).
Theo từ điển Oxford, hậu cần trước hết là "khoa học về di chuyển trên chiến trường, cung cấp và duy trì sức mạnh quân sự." Napoleon từng định nghĩa: Hậu cần là hành động duy trì quân đội, nhưng điều này cũng do hậu cần không đủ đã khiến vị tướng tài ba thất bại trên đường đến Matxcova vì kéo dài đường tiếp tế của bà. Cho đến nay, khái niệm logistics được mở rộng sang lĩnh vực kinh tế, phát triển nhanh chóng và mang lại thành công cho nhiều công ty, công ty đa quốc gia nồi tiếng trên thế giới. So với các ngành chức năng truyền thông (như marketing, tài chính hoặc sản xuất), logistics hiện đại là một ngành khoa học tương đối non trẻ. Cuốn sách đầu tiên về logistics ra đời năm 1961 với tên tiếng Anh la “Physical Distribution Management”, tir đó đến nay đã đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau đề tổng kết lĩnh vực này.
Mỗi khái niệm thể hiện một cách tiếp cận và quan điểm nội dung khác nhau. Trước những năm 1950, hậu cần chi là một hoạt động chức năng. Trong khi những thay đổi lớn đã diễn ra trong lĩnh vực tiếp thị và quản lý sản xuất, sự hiểu biết khoa học về quản lý hậu cần vẫn chưa được hình thành một cách hiệu quả. Sự phát triển nhanh chóng của khoa học, công nghệ và quản lý vào cuối thế kỷ 20 đã nâng logistics lên một tầm cao mới, có thể gọi là thời kỳ phục hưng của logistics.
Có bốn yếu tô chính dẫn đến sự chuyển đổi này: - Thương mại hóa thiết bị vi xử lý: Trong giai đoạn này, thiết bị điện tử đã bước vào giai đoạn thương mại hóa rộng rãi, giá thành sản phẩm rất rẻ, phù hợp với điều kiện đầu tư của doanh nghiệp, kể cả doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các thiết bị này là phương tiện hỗ trợ rất nhiều cho hoạt động logistics (trao đổi thông tin, quản lý hàng tồn kho, tính toán chỉ phí). Ở các nước phát triển, bộ phận hậu cần là bộ phận sử dụng tài nguyên máy tính lớn nhất của công ty. - Cuộc cách mạng viễn thông: Ngoài các yếu tố trên, sự phát triển chung của ngành viễn thông, đặc biệt là sự tiến bộ của công nghệ thông tin ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động này.
Từ những năm 1980, người ta đã sử dụng công nghệ mã vạch để cải thiện hoạt động hậu cần. Khách hàng và nhà cung cấp cũng da bắt đầu sử dụng trao đổi dữ liệu điện tử (EDI) để giao tiếp và nhận dữ liệu giữa nội bộ và bên ngoài doanh nghiệp. Nó cũng bao gồm vệ tỉnh, máy fax, máy photocopy và băng và thiết bị ghi video khác. Thông qua các phương tiện này, mọi người có thể có được thông tin mới nhất trong quá trình thực hiện hậu cần.
Nhiều công ty sử dụng dữ liệu và mạng máy tính kịp thời và chính xác. - Áp dụng rộng rãi kế hoạch đổi mới chất lượng: Quan điểm quản lý chất lượng tổng hợp (TQM) là động cơ quan trọng nhất để thúc đây sự phát triển của logisties. Trong thời kỳ hậu chiến tranh thế giới thứ hai, các công ty ngày càng quan tâm nhiều hơn đến chất lượng hàng hóa và hiệu quả của quá trình sản xuất. Các khái niệm "không có sai sót" 0và "lần đầu tiên làm đúng" trong TQM đã được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực hậu cần.
Các công ty nhận ra rằng các sản phẩm chất lượng mà không thẻ đặt hàng hoặc bị hư hỏng trong thời gian là không thể chấp nhận được. Hiệu suất hậu cần kém sé làm hỏng kế hoạch cải tiến chất lượng. - Sự phát triển của các liên minh: Trong những năm 1980, các công ty bắt đầu nhận ra rằng khách hàng và nhà cung cấp phải được coi là đồng minh chiến lược và đối tác kinh doanh. Sự hợp tác và kết nói giữa các bên là cơ sở để hoạt động kinh doanh logistics nang cao hiệu quả, giảm chồng chéo, lãng phí không cần thiết, tập trung kinh doanh, cùng thúc day thành công.
Với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, lý thuyết quản lý và công nghệ thông tin, cùng với thời gian, logistics đã được phát triển cả về quy mô và tầm ảnh hưởng, tạo ra một làn sóng đổi mới tư duy trong tất cả mọi người. Tất cả các khía cạnh hoạt động của công ty từ những năm 1960 đến nay. Theo Jacques Colin, giáo sư khoa học quản lý tại Đại học Max Aix, sự phát triển của ngành logistics bắt đầu từ khoa học chỉ tiết về hoạt động - liên kết - khoa học tổng hợp. Trong lĩnh vực quân sự và thương mại.
Có thể chia quá trình phát triển của logistics kinh doanh trên thế giới thành 5 giai đoạn: workplace logistics (logistics tai chd), facility logistics (logistics co sé san xuat), corporate logistics (logistics céng ty), supply chain logistics (logistics chudi cung tng), global logistics (logistics toàn cầu). Logistics tai chỗ là sự di chuyển của nguyên vật liệu thô tại nơi làm việc. Mục đích của workplace logistics la la don giản hóa hoạt động độc lập của các cá nhân hoặc dây chuyền lắp ráp hoặc sản xuất.Trong và sau Chiến tranh thế giới thứ hai, lý thuyết và nguyên tắc hoạt động logistics tại nơi làm việc đã được cung cấp cho công nhân công nghiệp. Trọng tâm của hậu cần tại nơi làm việc là tổ chức lao động khoa học.
Logistics cơ sở là việc vận chuyền nguyên liệu thô giữa các phân xưởng trong nội bộ cơ sở sản xuất. Cơ sở sản xuất có thể là nhà máy, trạm cấp liệu, nhà kho hoặc trung tâm phân phối. Cơ sở hậu cần được biết đến như một bước giải quyết van dé sau: dam bao cung cấp đúng và đủ nguyên liệu cho day chuyền sản xuất hàng loạt và lắp ráp máy móc (do sự không đồng nhất giữa các loại máy móc trong những năm 1950 và 1960). Logistics công ty là luồng nguyên liệu và thông tin giữa các cơ sở sản xuất nội bộ của công ty và các quá trình sản xuất.
Đối với các công ty sản xuất, hoạt động hậu cần được thực hiện giữa các nhà máy và kho hàng, trong khi các nhà bán buôn là giữa các đại lý phân phôi của họ, và đối với các đại lý bán lẻ, họ ở giữa. Các cửa hàng phân phối và bán lẻ của nó. Logistics công ty ra đời từ những năm 1970 và chính thức được sử dụng trong kinh doanh. Trong giai đoạn này, hoạt động kho vận liên quan đến hậu cần.
Logistics thương mại trở thành một quá trình có mục tiêu chung là tạo ra và duy trì một chiến lược dịch vụ khách hàng tốt với tổng chi phi logistics thap hon. Logistics chuỗi cung ứng được phát triển vào những năm 1980. Quan điểm này coi logistics là sự di chuyển nguyên vật liệu, thông tin và tài chính giữa các công ty (công ty, cơ sở vật chất trong nhà máy). Chuỗi thống nhất.
Đó là mạng lưới cơ sở hạ tang (nhà máy, kho bãi, bến tàu, cửa hàng .), phương tiện (xe tải, xe lửa, máy bay, tàu thủy .) được tích hợp hệ thống thông tin. Sự kết nối giữa các nhà cung cấp của công ty và khách hàng của họ. Các hoạt động logistics (dịch vụ khách hàng, quản lý kho hàng, vận chuyển hàng hóa và kho bãi .) được liên kết với nhau để đạt được các mục tiêu của chuỗi cung ứng. Điểm nỗi bật trong chuỗi cung ứng là khả năng tương tác của 3 dây liên kết và sự kết nối giữa các bên tham gia trong chuỗi: - Dòng thông tin: quá trình đặt hàng gửi và nhận, theo đõi sự đi chuyền của hàng hóa và tài liệu giữa người gửi và người nhận.
- Dòng sản phẩm: con đường vận chuyền hàng hóa và địch vụ từ nhà cung cấp đến khách hàng, đảm bảo đúng số lượng và chất lượng. - Dòng tài chính: là dòng tiền và chứng từ thanh toán giữa khách hàng và nhà cung cấp dé chứng minh hiệu quả kinh doanh. Theo quan điểm này, logistics được hiểu là “quá trình từ vị trí tối ưu của chuỗi cung ứng số lượng lớn, vận chuyền và lưu trữ các nguồn lực đến người tiêu dùng cuối cùng hoạt động kinh tế”. Trong chuỗi cung ứng, hậu cần bao gồm hai cấp độ: lập kế hoạch và tổ chức.
Mức đầu tiên cần giải quyết vấn đề tối ưu hóa vị trí của tài nguyên. Mức thứ hai liên quan đến việc tối ưu hóa dòng động cơ trong hệ thống. Trên thực tế, có nhiều điểm khác biệt trong hệ thống logistics của các quốc gia và khu vực, nhưng điểm chung là sự kết hợp giữa kỹ năng, khoa học và các hoạt động chuyên môn, như tiếp thị, sản xuất, tài chính, vận chuyển, thu mua, lưu kho, phân phối. với chỉ phí thấp nhất Đạt được dịch vụ khách hàng tối đa.
Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, đây là một khái niệm phù hợp, có thể sử dụng. Logistics toan cầu là luồng nguyên liệu, thông tin va tiền tệ giữa các quốc gia. Nó kết nối các nhà cung cấp của các nhà cung cấp với khách hàng của các khách hàng toàn cầu. Trong những năm qua, dòng chảy hậu cần toàn cầu này đã tăng lên rất nhiều.
Điều này là do sự toàn cầu hóa của nền kinh tế tri thức, sự mở rộng của các nhóm kinh doanh và mua bán trực tuyến.