1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG XỬ LÝ NƢỚC THẢI CỦA NHÀ MÁY XỬ LÝ NƢỚC THẢI 1.1 “Lý luận chung về hoạt động xử lý nƣớc thải sinh hoạt“ 1. “Tổng quan về hoạt động xử lý nước thải sinh hoạt“ 1. “Nước thải sinh hoạt“ Theo Lê Quang Huy (2011) thì Nước thải sinh hoạt là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, các công trình công cộng, trường học, siêu thị, chợ búa, cơ quan văn phòng và các cơ sở tương tự khác. Theo QCVN 14:2008/BTNMT về nước thải sinh hoạt quy định: nước thải sinh hoạt là nước thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của con người như ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân.
Hoạt động xử lý nước thải sinh hoạt a. Định nghĩa Theo Lê Quang Huy (2011), Xử lý nước thải là quá trình loại bỏ chất ô nhiễm ra khỏi nước thải như nước thải hộ gia đình, thương mại và cơ quan. Nó bao gồm các quá trình vật lý, hóa học, và sinh học để loại bỏ các chất ô nhiễm và sản xuất nước thải được xử lý an toàn với môi trường. Một sản phẩm của xử lý nước thải thường là một chất thải bán rắn hoặc bùn, mà cần phải xử lý hơn nữa trước khi được thải ra hoặc được áp dụng đất.
Các phương pháp xử lý - Phương pháp lý học Thường được áp dụng để xử lý nước thải là: keo tụ, tuyển nổi, đông tụ, hấp phụ, trao đổi ion, thấm lọc ngược và siêu lọc… Giai đoạn xử lý hoá lý có thể là giai đoạn xử lý độc lập hoặc xử lý cùng với các phương pháp cơ học, hoá học, sinh học trong công nghệ xử lý nước thải hoàn chỉnh. “- Phương pháp hóa học“ Thường dùng trong hệ thống xử lý nước thải gồm có: trung hòa, oxy hóa 2 khử, tạo kết tủa hoặc phản ứng phân hủy các hợp chất độc hại. Cơ sở của phương pháp xử lý này là các phản ứng hóa học diễn ra giữa chất ô nhiễm và hóa chất thêm vào. Do đó, ưu điểm của phương pháp là có hiệu quả xử lý cao, thường được sử dụng trong các hệ thống xử lý nước khép kín.
Tuy nhiên, phương pháp hóa học có nhược điểm là chi phí vận hành cao, không thích hợp cho các hệ thống xử lý nước thải với quy mô lớn. Bản chất của phương pháp hoá lý trong quá trình xử lý nước thải sinh hoạt là áp dụng các quá trình vật lý và hoá học để đưa vào nước thải chất phản ứng nào đó để gây tác động với các tạp chất bẩn, biến đổi hoá học, tạo thành các chất khác dưới dạng cặn hoặc chất hoà tan nhưng không độc hại hoặc gây ô nhiễm môi trường. - Phương pháp sinh học Có bản chất là sử dụng khả năng sống và hoạt động của các vi sinh vật có ích để phân huỷ các chất hữu cơ và các thành phần ô nhiễm trong nước thải. Các quá trình xử lý sinh học chủ yếu có năm nhóm chính: quá trình hiếu khí, quá trình anoxic, quá trình kị khí, quá trình kết hợp hiếu khí – anoxic – kị khí, các quá trình hồ sinh học.
Đối với việc xử lý nước thải có yêu cầu đầu ra không quá khắt khe thì quá trình xử lý hiếu khí bằng bùn hoạt tính là quá trình xử lý sinh học thường được ứng dụng nhất. Trên đây là ba cách xử lý nước thải phổ biến nhất hiện nay, tuy nhiên, tùy từng thành phần và tính chất nước thải, mức độ cần thiết xử lý nước thải, lưu lượng và chế độ xả thải, đặc điểm nguồn tiếp nhận, điều kiện mặt bằng, điều kiện vận hành và quản lý hệ thống xử lý nước thải, điều kiện cơ sở hạ tầng… để ta chọn công nghệ xử lý nước thải phù hợp nhất. “Tầm quan trọng của hoạt động xử lý nước thải“ 1. Trên lĩnh vực kinh tế Trong một vài năm gần đây, các chuyên gia trong ngành nước trên thế giới đã chỉ ra rằng sự khan hiếm tài nguyên, gia tăng dân số, di dân, và việc thiếu vốn đầu tư để nâng cấp và mở rộng cơ sở hạ tầng, cũng như các quy định về tiêu chuẩn nguồn nước chính là những yếu tố dẫn dắt sự phát triển của ngành công nghiệp nước trên thế giới.
Thời gian này cũng không có nhiều thay đổi trong ngành nước, 3 ngoại trừ một thực tế rằng tình trạng nguồn nước trên thế giới ngày càng trở nên xấu đi qua mỗi năm. Rất nhiều chuyên gia đã tuyên bố, dưới hình thức này hay khác rằng “Nước chính là dầu của thế kỷ 21’’; “Nước là loại dầu bôi trơn cốt yếu của nền kinh tế”. Theo bài báo “Running dry” được đăng trên tạp chí The Economist ngày 21/8/2008, cũng như dầu, nguồn cung nước đang phải chịu những áp lực ngày càng lớn. Theo ước tính của ngân hàng đầu tư Goldman Sachs, lượng tiêu thụ nước trên toàn thế giới tăng gấp đôi sau mỗi 20 năm.
Cũng giống như dầu, nước là hàng hóa không thể thay thế. Trong lĩnh vực kinh tế, nước là nguyên liệu thiết yếu của nhiều sản phẩm tiêu dùng. Theo JPMorgan, 5 người khổng lồ trong lĩnh vực thực phẩm và đồ uống: Nestle, Uniliver, Cocacola, Anheuser-Busch and Danone mỗi năm tiêu thụ khoảng 575 tỷ lit nước, lượng nước đủ để đáp ứng nhu cầu nước hàng ngày cho tất cả mọi người trên trái đất. Không chỉ các ngành công nghiệp thực phẩm, đồ uống sử dụng nhiều nước, các ngành n ăng lượng và công nghệ cao cũng sử dụng một lượng nước lớn trong sản xuất.
Cần sử dụng 13 m3 nước ngọt để sản xuất ra một lát bán dẫn dày 200mm. Lượng nước dùng cho chế tạo chip chiếm khoảng 25% tổng lượng nước tiêu thụ ở Silicon Valley. Năng lượng cũng là ngành tiêu thụ rất nhiều nước. Ở Mỹ, hàng năm 40% lượng nước ngọt bơm ra từ các hồ và tầng đất ngậm nước được dùng để làm mát các nhà máy năng lượng.
Để tách ra được 1 lít dầu từ cát dầu nặng cần dùng đến 5 lít nước. Sử dụng một lượng lớn nước trong sản xuất chế biến, một điều tất yếu là các công ty phải chi những khoản lớn để xử lý nước thải. Ở các nước công nghiệp phát triển, trong ngành nước thì ngành công trình xử lý nước thải, cùng với ngành cung ứng nước là hai ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất. “Trên lĩnh vực xã hội“ Nhu cầu vệ sinh môi trường, vệ sinh nguồn nước là nhu cầu cấp thiết cần được đáp ứng của người dân.
Xử lý nước thải, làm sạch nguồn nước không chỉ tiêu diệt các mầm bệnh trong nước, làm giảm nguy cơ mắc nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở người mà về lâu dài còn giảm được chi phí về nước do một phần nước thải được tái sử dụng cho việc tưới cây, làm thuỷ lợi hay dùng để làm mát thiết bị trong các nhà máy sản xuất, chế biến. Do đó nguồn nước cần để đáp ứng nhu cầu 4 sinh hoạt, sản xuất của toàn xã hội sẽ giảm đi, nguy cơ thiếu nước sạch sẽ trở nên bớt trầm trọng.2 Tổng quan về Đánh giá hiệu quả hoạt động xử lý nƣớc thải đô thị của nhà máy xử lý nƣớc thải 1. Đánh giá hiệu quả hoạt động là gì? Đánh giá hiệu quả hoạt động nghĩa là chúng ta đi phân tích, tính toán xem lợi ích thu được từ hoạt đông nhà máy có lớn hơn chi phí phải bỏ ra hay không và cố gắng lượng hóa hiệu quả đó. Việc xem xét, phân tích, đánh giá các khoản chi phí và lợi ích của các nhà máy càng chi tiết, càng cụ thể thì chúng ta sẽ có một bản đánh giá hiệu quả càng hoàn chỉnh, từ đó giúp cho chủ đầu tư nhận ra những giá trị có lợi và bất lợi do nhà máy đem lại.
Do cách nhìn nhận khác nhau về các lợi ích và chi phí xuất phát từ các quan điểm phân tích khác nhau dẫn đến kết quả tính toán các loại hiệu quả là không giống nhau. Cụ thể, nếu theo quan điểm cá nhân thì khi lựa chọn xây dựng một nhà máy người ta quan tâm hàng đầu đến các chi phí và lợi ích liên quan trực tiếp đến cá nhân đó; còn trên phạm vi toàn xã hội, hiệu quả cần được hiểu theo nghĩa rộng hơn khi xem xét các tác động đó lên toàn xã hội. Sự cần thiết phải đánh giá hiệu quả hoạt động của nhà máy Phân tích khía cạnh kinh tế - môi trường của nhà máy là một trong những nội dung trong quá trình lập và thẩm định nhà máy. Việc phân tích này có tác dụng không chỉ đối với nhà đầu tư mà còn có ý nghĩa đối với cơ quan có thẩm quyền của nhà nước và các định chế tài chính.
Đối với nhà nước: Đây là căn cứ quan trọng để quyết định có cho phép đầu tư hay không. Trên phương diện của một quốc gia thì lợi ích kinh tế - môi trường mà nhà máy mang lại chính là căn cứ để xem xét và cho phép đầu tư. Một nhà máy sẽ dễ dàng được chấp nhận hơn nếu nó thực sự có đóng góp cho nền kinh tế và xã hội cũng như đáp ứng được các yêu cầu đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường. Đặc biệt, đối với các nhà máy xử lý nước thải thì việc đánh giá, xem xét các khía cạnh về hiệu quả kinh tế - môi trường của nhà máy lại càng cần thiết và có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng.
Các nhà máy xử lý nước thải là những nhà máy mang 5 tính chất phúc lợi và phục vụ chung cho cộng đồng nên các giá trị về phân tích tài chính hoặc là lỗ, hoặc sẽ không đạt được giá trị cao, tuy nhiên nó lại có những đóng góp lớn vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư; vì thế người ta cần phải tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của nhà máy để có những ưu đãi đối với việc xây dựng và phát triển nhà máy đó trong những giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế. Tính bền vững của nhà máy xử lý nước thải đô thị“ “Bền vững (sustainability) là khả năng duy trì. Để hoạt động ổn định và hiệu quả, một hệ thống công nghệ phải đảm bảo 4 yếu tố sau đây: bền vững về công nghệ, bền vững của công trình, bền vững về kinh tế tài chính và bền vững về tổ chức.