Đặt vấn đề Nước rác với nồng độ ô nhiễm cao, thành phần ô nhiễm trong nước rác phức tạp. Do đó nếu được thải trực tiếp vào nguồn tiếp nhận không qua xử lý sẽ gây ô nhiễm cho nguồn nước mặt và nước ngầm, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Nước rác chứa các chất ô nhiễm chính: chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học; chất hữu cơ có phân tử lượng lớn như axit humic; fuvic; lượng lớn ammonia; kim loại nặng; và các chất ô nhiễm khác. Thành phần trong nước rác biến động lớn, điều này phụ thuộc vào thành phần chất thải rắn, công nghệ ép rác…Hiện nay, phần lớn nước thải tại các trạm ép rác trung chuyển đều thải trực tiếp vào hệ thống thoát nước chung của thành phố; tại một số trạm trung chuyển, nước thải được chuyên chở đến các bãi chôn lấp với tổng chi phí vận chuyển và xử lý khá cao.
Để giảm thiểu ô nhiễm từ nước rác, các phương pháp xử lý đã được áp dụng như hóa lý, sinh học, hoặc là sự kết hợp cả phương pháp hóa lý và sinh học (Galleguillos, 2011). Bể sinh học màng (MBR) được biết đến như công nghệ mới thay thế bể lắng của công nghệ bùn hoạt tính như công nghệ màng vi lọc (MF) hoặc siêu lọc (UF). Trong công nghệ MBR thì mô hình lọc sinh học màng nhúng chìm (SMBR) có những thuận lợi hơn so với các dạng module khác do giá thành sản xuất và bảo trì thấp (Fane và cộng sự, 2002), tiêu thụ năng lượng thấp 0,2-0,4 kwh/m3 (Melin và công sự, 2006) và dòng ra được hút ở áp suất nhỏ (<1 bar). Công nghệ MBR có những thuận lợi hơn so với công nghệ bùn hoạt tính: không cần thêm bể lắng, vận hành ở tải trọng cao hơn, chất lượng nước đầu ra tốt hơn, thời gian lưu bùn dài hơn do đó sản phẩm bùn sinh ra ít hơn.
Tuy nhiên, vấn đề bẩn màng cũng là một hạn chế của công nghệ này. Hiệu suất lọc màng giảm theo sau quá trình bẩn màng gây trở ngại cho việc ứng dụng công nghệ này trong xử lý nước thải. Một số nghiên cứu cho thấy các yếu tố gây bẩn màng được phân loại thành hai nhóm chính: các yếu tố gây bẩn màng có liên quan đến các thông số vận hành và yếu tố gây bẩn màng có liên quan đến đặc tính sinh khối. Yếu tố gây 2 bẩn màng có liên quan đến các thông số vận hành: thông lượng (Flux) (Choi và cộng sự, 2005; Le-Clech và cộng sự, 2006); thời gian lưu bùn (SRT) (Ahmed và cộng sự, 2007); nồng độ oxy hòa tan (Chang và cộng sự, 2002; Psoch và cộng sự, 2006).
Yếu tố gây bẩn màng có liên quan đến đặc tính sinh khối: độ nhớt của bùn (Meng và cộng sự, 2006); nồng độ MLSS (Chang và cộng sự, 2005), nồng độ của các polymer ngoại bào (EPS) (Drews và cộng sự, 2006). Hầu hết các trạm trung chuyển trong thành phố có diện tính nhỏ, thêm vào đó nước thải trạm trung chuyển có nồng độ cao, do đó để xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho trạm thì công nghệ nào vừa tiết kiệm diện tích và chất lượng nước sau xử lý tốt sẽ chiếm ưu thế. Theo một số nghiên cứu cho thấy: MBR có thể vận hành với thời gian lưu bùn dài từ 5-50 ngày, nồng độ MLSS cao, F/M thấp, khả năng nitrat hóa của MBR tốt hơn so với bùn hoạt tính do thời gian lưu tồn vi khuẩn nitrat hóa dài (Visvanathan và cộng sự, 2000). Hiệu quả loại bỏ nitơ và cacbon của MBR tốt hơn bùn hoạt tính với thời gian lưu nước ngắn (Soriano và cộng sự, 2003).
Stephenson và cộng sự, 2000 cho thấy tỷ lệ F/M nằm trong khoảng 0. Thêm vào đó khi xử lý nước thải đô thị, nồng độ MLSS có thể lên đến 20,000 mg/L và nồng độ này được duy trì trong suốt quá trình xử lý (Rosenberger và cộng sự, 2002). Theo sau nghiên cứu của Le-clech và cộng sự, 2006, áp suất chuyển màng (TMP) gia tăng theo sự gia tăng thông lượng vận hành, bẩn màng cao tại thông lượng cao hơn.Vì vậy, MBR vận hành ở thông lượng thấp nhằm làm giảm bẩn màng và hạn chế được nhược điểm. Trên cơ sở những lợi ích có được từ công nghệ SMBR và triển khai nó vào thực tế với qui mô rộng hơn, đề tài “Đánh giá khả năng xử lý và đặc tính bẩn màng của hệ thống màng nhúng chìm (submerged membrane bioreactor) xử lý nước thải trạm ép rác tại thông lượng thấp” được tiến hành nghiên cứu trên mô hình pilot thực tế, các thông số COD, SS, độ màu, độ đục, TKN, ammonia, N-NO3-, TP, áp suất vận chuyển qua màng (TMP), Polyscacchride (PS), độ hấp thu UVA254, SVI, MLSS, MLVSS được kiểm tra để khảo 3 sát đặc tính bẩn màng và đánh giá khả năng xử lý nước thải cũng như tính ổn định của hệ thống.2 Mục tiêu nghiên cứu Hệ thống SMBR được vận hành để xử lý nước rác tại 4 thông lượng khác nhau: 1.1 L/m2h nhằm đạt được các mục tiêu sau: - Đánh giá khả năng xử lý nước thải trạm ép rác trung chuyển ứng dụng công nghệ màng nhúng chìm (SMBR) tại các thông lượng khác nhau.
- Khảo sát đặc tính bẩn màng (membrane fouling) của mô hình thí nghiệm tại thông lượng thấp theo các điều kiện vận hành trên. - Đánh giá khả năng tái sử dụng nước thải sau xử lý.3 Phạm vi nghiên cứu - Nước thải thí nghiệm được lấy tại hố thu gom nước thải trạm ép rác trung chuyển: số 1, Tống Văn Trân, Phường 5, Quận 11, TP. - Thực nghiệm được tiến hành ở quy mô phòng thí nghiệm đặt tại phòng thí nghiệm khoa Môi Trường, Đại học Bách Khoa Thành Phố Hồ Chí Minh 4 CHƢƠNG 2. Tồng quan về rác thải 2.
Khái niệm Rác thải thu gom trong khu vực đô thị được gọi là chất thải rắn đô thị. Chất thải rắn đô thị là vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó và chúng được xã hội nhìn nhận như là một thứ mà thành phố có trách nhiệm thu dọn. Thành phần của chất thải rắn đô thị là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thành phần và tính chất nước ép rác tại các trạm trung chuyển. Do đó, cần có những hiểu biết về nguồn gốc, thành phần, tốc độ phát sinh và vấn đề quản lý chất thải rắn đô thị để dự đoán thành phần và tính chất của nước rác tại trạm trung chuyển.
Nguồn gốc chất thải rắn CTR đô thị phát sinh chủ yếu từ các nguồn sau: - Từ khu dân cư (chất thải sinh hoạt). - Từ các khu thương mại. - Từ các cơ quan, bệnh viện, trường học… - Từ các công trình xây dựng. - Từ các dịch vụ công cộng.
- Từ các nhà máy công nghiệp. - Từ các hoạt động nông nghiệp CTR có thể phân loại theo các cách sau: - Theo vị trí hình thành: rác trong nhà, ngoài nhà, trên đường phố… - Theo thành phần vật lý và hóa học: phân biệt dựa trên thành phân vô cơ, hữu cơ, kim loại, phi kim, da, giẻ vụn, cao su, chất dẻo, gỗ… - Theo bản chất nguồn tạo thành: 5 CTR sinh hoạt: là chất thải liên quan đến hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, trung tâm thương mại… CTR công nghiệp: các phế thải từ nguyên liệu trong quá trình sản xuất, phế thải trong các quá trình sản xuất bao bì, hóa chất… CTR từ nông nghiệp: chất thải và mẫu thừa từ các hoạt động nông nghiệp như trồng trọt, thu hoạch các loại cây trồng… CTR từ xây dựng: là các phế thải như đất đá, bê tông, gạch, xà bần… - Theo mức độ nguy hại: CTR nguy hại: gồm các hóa chất dễ gây cháy nổ, độc hại, chất phóng xạ, chất oxy hóa… Chất thải y tế nguy hại: các loại bông băng, nẹp dùng trong khám bệnh, gạc, các mô bị cắt, các chất thải phóng xạ… Chất thải không nguy hại: là những loại chất thải không chứa các chất và các hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác thành phần. Trong CTRĐT thì chất thải không độc hại chiếm tỷ lệ lớn nhất. CTR tập trung về các trạm trung chuyển chủ yếu là CTR sinh hoạt (CTRSH).
Thành phần của chất thải rắn sinh hoạt Ở Việt Nam, tốc độ phát sinh rác thải tùy thuộc vào từng loại đô thị và dao động từ 0.35 kg/người.80 kg/người. Các số liệu nghiên cứu và thống kê cho thấy lượng CTR được thải ra tại TP. HCM khoảng 7000 tấn/ngày, bình quân khoảng 0.2 kg/người. Tốc độ xả CTR tăng theo từng năm khoảng 15–20%.1: Khối lƣợng CTR sinh hoạt tại Tp.HCM trong giai đoạn 2005 – 2013 Năm Khối lượng CTR sinh hoạt Tấn/năm Tấn/ngày 2005 2.860 (Nguồn: CITENCO, 2004) Thành phần CTR sinh hoạt tại trạm trung chuyển của Tp.HCM như sau: Bảng 2.2: Thành phần CTRSH tại các trạm trung chuyển Thành phần % Khối lượng Độ ẩm (%) Độ tro (%) Thực phẩm 72.0 Cao su mềm 0.0 Cao su cứng 0.0 - - Tre, rơm rạ, lá cây 0.0 - - Vỏ sò, xương động vật 0.0 – KĐK - - (Nguồn: VITTEP, 2003) Độ tro (% trọng lượng khô); KĐK: không đáng kể khi % theo khối lượng ướt < 0.
Từ số liệu thống kê ở trên ta thấy, CTRSH tại TP. HCM có chứa một phần rất lớn là thực phẩm (65 – 95%), độ ẩm (70 – 85%). Các thành phần hữu cơ dễ bị phân hủy chiếm phần lớn, cho nên nước ép rác tại các trạm trung chuyển có hàm lượng chất hữu cơ cao, dễ phân hủy sinh học. Thành phần của CTRSH cũng rất đa dạng và thay đổi đáng kể tùy thuộc vào các mùa trong năm, điều kiện khí hậu, kinh tế và nhiều yếu tố khác như tập quán, tái sinh 8 CTR, việc thu nhặt phế liệu… Thành phần CTR là yếu tố rất quan trọng trong việc dự đoán đặc tính của nước rác tại các trạm trung chuyển.
Do đó, cần có những quan tâm cần thiết trong việc dự đoán sự thay đổi thành phần CTR.2 Trạm ép rác trung chuyển 2.1 Giới thiệu chung Tên cơ sở: Xí nghiệp vận chuyển số 2 Địa chỉ: Số 01 Tống Văn Trân, Phường 5, Quận 11, Tp Hồ Chí Minh Công suất: 850 tấn rác/ngày 2.2 Nhiệm vụ, chức năng Thu gom, xúc hốt, vận chuyển rác sinh hoạt từ các cơ quan, chợ, trường học, khu công nghiệp, khu chế xuất, rác đường và dọn xà bần; rác trên địa bàn các Quận 10, Quận 11, Quận Tân Phú, Quận Bình Chánh. Quản lý điều hành trực tiếp làm nhiệm vụ thu gom, xúc hốt, vận chuyển rác đưa đến bãi đổ tập trung.