Tổng quan nghiên cứu

Ngành sản xuất gạch gốm ốp lát Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân ấn tượng khoảng 20%/năm, với năng lực sản xuất toàn quốc năm 2008 đạt 255 triệu m2 gạch ốp lát và 45 triệu m2 gạch granite. Tuy nhiên, quá trình sản xuất đòi hỏi tiêu hao nguồn nhiệt lượng rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong giá thành thành phẩm. Tại Công ty Cổ phần Gạch men Ý-Mỹ (Khu công nghiệp Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai), dây chuyền sản xuất 1 có công suất bình quân 7.839 m2 gạch/ngày tiêu thụ tới 33.507 m3 khí than/ngày cho cụm lò nung và lò sấy. Trong bối cảnh chi phí nhiên liệu tăng cao và áp lực cạnh tranh gay gắt, hiện tượng thất thoát nhiệt khói thải ra môi trường ở dải nhiệt độ 145,5°C đến 292,8°C đặt ra bài toán cấp bách về tiết kiệm năng lượng.

Nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: Đánh giá chi tiết hiện trạng tiêu hao nhiệt năng tại khu vực lò nung và lò sấy của dây chuyền 1, tính toán cân bằng năng lượng và đề xuất các giải pháp kỹ thuật thu hồi nhiệt thải nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực hiện từ tháng 8/2014 đến tháng 6/2015 trên đối tượng sản phẩm gạch Ceramic kích thước 50x50 cm có trọng lượng 2,8 kg/viên.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc giảm suất tiêu hao nhiệt năng từ mức 0,0446 MMBTU/m2 về gần mức chuẩn thiết kế ban đầu là 0,0421 MMBTU/m2, tương ứng tiềm năng tiết kiệm 5,6% tổng lượng nhiên liệu. Kết quả nghiên cứu giúp doanh nghiệp kiểm soát tốt mức tiêu hao nhiệt năng đạt 1.004,32 kcal/kg sản phẩm, đáp ứng hoàn toàn quy chuẩn của Bộ Xây dựng tại Quyết định số 1586/QĐ-BXD (quy định mức tiêu hao nhiệt không vượt quá 1.600 kcal/kg sản phẩm gạch Ceramic).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng Định luật 1 Nhiệt động lực học về bảo toàn và chuyển hóa năng lượng, kết hợp lý thuyết truyền nhiệt và quá trình cháy công nghiệp. Phương trình cân bằng nhiệt lượng tổng thể được áp dụng để xác định chính xác dòng nhiệt vào từ phản ứng cháy của khí hóa than (nhiệt trị khoảng 11.000 kJ/m3 với các thành phần cháy gồm CO chiếm 26-28%, H2 chiếm 13-15%, CH4 chiếm 1-4%), nhiệt lượng hữu ích truyền cho gạch mộc và các dòng nhiệt tổn thất ra môi trường qua vỏ lò và khói thải.

Mô hình tính toán quá trình cháy khí công nghiệp dựa trên các khái niệm cốt lõi: Hệ số không khí thừa, nhiệt độ cháy lý thuyết, nhiệt trị thấp của nhiên liệu và hiệu suất nhiệt buồng đốt. Đặc biệt, nghiên cứu tích hợp quy chuẩn quản lý năng lượng quốc gia từ Quyết định số 1586/QĐ-BXD ban hành ngày 30/12/2014 của Bộ Xây dựng về quy hoạch phát triển vật liệu gốm sứ xây dựng đến năm 2020, làm cơ sở định mức kỹ thuật đánh giá cho từng dòng sản phẩm gạch ốp lát.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn kết hợp giữa chuỗi số liệu vận hành 12 tháng năm 2013 và dữ liệu đo đạc thực nghiệm chuyên sâu tại dây chuyền 1 vào ngày 17/01/2015. Cỡ mẫu nghiên cứu đại diện là sản lượng 7.839 m2 gạch Ceramic 50x50 cm sản xuất liên tục trong 24 giờ. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích tại dây chuyền 1 vì đây là hệ thống lò nung thanh lăn Nassetti hiện đại, vận hành ổn định và đại diện cho các dây chuyền sản xuất chính của nhà máy.

Lý do lựa chọn phương pháp đo đạc phân tích thực nghiệm nhiệt động học là nhằm thu thập chính xác các thông số tức thời của dòng khói thải và áp suất tĩnh thực tế, từ đó loại bỏ sai số giữa lý thuyết thiết kế và vận hành thực tế. Tác giả sử dụng máy phân tích khí thải chuyên dụng Testo để đo nồng độ các chất khí O2, CO2, CO, NOx, SO2; ống Pitot kết hợp vi áp kế đo vận tốc dòng khí trong dải 3,7 đến 25 m/s và lưu lượng từ 1 đến 5 m3/s tại 8 vị trí quạt thải; nhiệt kế điện tử đo dải nhiệt độ từ 60°C đến 1.200°C.

Timeline nghiên cứu trải qua 3 giai đoạn: Thu thập dữ liệu lịch sử và tổng quan công nghệ từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014; Thực hiện đo đạc và kiểm toán nhiệt thực địa từ tháng 01/2015 đến tháng 03/2015; Tính toán mô hình thu hồi nhiệt và đánh giá hiệu quả kinh tế kỹ thuật từ tháng 04/2015 đến tháng 06/2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng công suất nhiệt tiêu thụ trong ngày tại dây chuyền 1 là 368.577.000 kJ/ngày (tương đương 15.357.375 kJ/h) để tạo ra 7.839 m2 thành phẩm. Suất tiêu hao nhiệt thực tế đạt 11.248,41 kcal/m2, tương ứng 1.004,32 kcal/kg sản phẩm gạch Ceramic 50x50 cm. Mặc dù chỉ số này đạt yêu cầu theo Quyết định số 1586/QĐ-BXD (dưới 1.600 kcal/kg), nhưng khi quy đổi theo đơn vị nhiệt năng chuẩn thì mức tiêu hao đạt 0,0446 MMBTU/m2, tăng 5,6% so với định mức vận hành trong quá khứ là 0,0421 MMBTU/m2.

Thứ hai, kết quả phân tích khí thải tại lò nung cho thấy nồng độ O2 dư lên tới 12,64% và CO2 thực tế là 7,33% trong khi CO2 cực đại đạt 18,4%. Hệ số không khí thừa vận hành đo được ở mức 2,5, cao hơn 56% so với tiêu chuẩn kinh nghiệm đối với quá trình đốt khí (1,05 đến 1,1). Tình trạng thừa gió này làm hiệu suất cháy giảm xuống 81,2% và phát thải lượng CO chưa cháy kiệt lên đến 79 ppm.

Thứ ba, tiềm năng nhiệt thải tại các vị trí ống khói bị bỏ phí rất lớn. Cụ thể, quạt E tại vùng làm mát thải ra lưu lượng 3 m3/s ở nhiệt độ 292,8°C; quạt D tại vùng làm mát gián tiếp thải 32.000 m3/h không khí nóng ở nhiệt độ 276°C đến 300°C; quạt A đầu lò nung thải khói ở 237,6°C với lưu lượng 1 m3/s.

Thứ tư, công đoạn sấy phụ (sau khi mài cạnh và rửa gạch kích thước lớn từ 50x50 cm trở lên) đang tiêu thụ độc lập 7.379 m3 khí than/ngày từ buồng đốt riêng, trong khi lượng nhiệt khói thải từ lò nung hoàn toàn đủ khả năng cung cấp nhiệt cho lò sấy phụ này.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến hệ số không khí thừa tăng cao là do không khí bên ngoài xâm nhập qua các cửa nạp liệu đầu lò khi quạt thải ẩm hút với vận tốc lớn (trên 10 m/s), làm các thành phần khí tại vùng tiền nung chưa kịp cháy kiệt đã bị cuốn ra ngoài. Bên cạnh đó, sau thời gian dài vận hành, các lớp vật liệu cách nhiệt và bông gốm bảo ôn bên trong buồng đốt bị suy giảm chất lượng, gây tổn thất nhiệt truyền qua vỏ lò tăng thêm 5,6%.

Đặc biệt, hệ thống thu hồi khí nóng làm mát gián tiếp trước đây cấp cho béc đốt từng bị tháo dỡ do sử dụng quạt cấp gió thông thường không chịu được nhiệt độ 300°C dẫn đến cháy bạc đạn, đồng thời sự gia tăng lưu lượng làm mất ổn định cột áp tĩnh tại ống góp, gây tắt béc đốt hoặc ngọn lửa cháy lệch tâm.

Dữ liệu vận hành thực tế được trình bày trực quan qua bảng tổng hợp thông số đo đạc 8 vị trí quạt thải và sơ đồ phân bố nhiệt lượng của lò nung, lò sấy. Cách thể hiện qua bảng so sánh định mức và biểu đồ phân bổ tổn thất nhiệt giúp làm rõ khoảng 35% tổng nhiệt lượng đầu vào đang bị phân tán ra môi trường. Kết quả này tương đồng với các nghiên cứu kiểm toán năng lượng trong ngành gốm sứ châu Âu (Sacmi, Nassetti), khẳng định việc thu hồi dòng nhiệt thải trên 250°C có tính khả thi kỹ thuật rất cao và mang lại thời gian thu hồi vốn ngắn.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái lắp đặt hệ thống thu hồi không khí nóng tại khu vực làm mát gián tiếp cấp cho quá trình cháy tại các béc đốt lò nung. Doanh nghiệp cần thay thế quạt cấp gió B bằng quạt ly tâm chuyên dụng chịu nhiệt độ trên 300°C công suất 15 kW, đồng thời lắp van điều tiết để duy trì ổn định cột áp tĩnh tại ống góp khí ở mức 0,95 đến 1,0 kPa. Mục tiêu giải pháp giúp tận dụng trọn vẹn 32.000 m3/h không khí nóng ở nhiệt độ 276°C, giảm tiêu hao khoảng 1.100 đến 1.200 m3 khí than/ngày cho lò nung. Timeline thi công trong 3 tháng do Phòng Kỹ thuật Cơ điện chủ trì.

Thứ hai, xây dựng tuyến ống thu hồi nhiệt khói thải lò nung cấp trực tiếp cho lò sấy phụ. Hệ thống sử dụng đường ống thép bọc bông cách nhiệt dẫn khói nóng ở nhiệt độ 220°C đến 266°C từ quạt A và quạt I về buồng đốt phụ, hòa trộn với không khí tự nhiên để duy trì nhiệt độ sấy ổn định 90°C đến 110°C. Mục tiêu giải pháp cắt giảm hoàn toàn 100% lượng nhiên liệu đốt mới tại lò sấy phụ, tiết kiệm 7.379 m3 khí than/ngày. Timeline thực hiện trong 4 tháng do Phân xưởng Sấy nung và Tổ Vận hành triển khai.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình vận hành và kiểm soát hệ số không khí thừa tại các béc đốt lò nung. Cán bộ kỹ thuật cần điều chỉnh lưu lượng gió cấp nhằm hạ hệ số không khí thừa từ 2,5 xuống ngưỡng 1,1 đến 1,2, nâng hiệu suất cháy từ 81,2% lên trên 90% và giảm lượng CO thải xuống dưới 20 ppm. Công việc thực hiện định kỳ hàng tháng do Kỹ sư Năng lượng phối hợp cùng Sở Khoa học và Công nghệ Đồng Nai kiểm định.

Thứ tư, nâng cấp bảo ôn và vật liệu cách nhiệt vỏ lò nung và buồng sấy. Cần bổ sung các lớp bông gốm ceramic fiber mật độ cao tại vùng nung có nhiệt độ 1.100°C đến 1.200°C nhằm hạ nhiệt độ bề mặt vỏ lò xuống dưới 60°C, giảm tỷ lệ thất thoát nhiệt truyền qua vỏ lò từ mức 5,6% hiện tại về dưới 1,5%. Timeline triển khai trong kỳ đại tu hàng năm với thời gian dừng chuyền 15 ngày.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư cơ nhiệt, kỹ sư năng lượng và cán bộ quản lý kỹ thuật tại các nhà máy sản xuất gạch men, gốm sứ: Luận văn cung cấp toàn bộ phương pháp tính toán cân bằng nhiệt thực tế, thông số đo đạc ống khói và hướng dẫn xử lý hiện tượng lệch tâm ngọn lửa béc đốt khi sử dụng gió nóng.

Ban giám đốc và các nhà đầu tư doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng: Tài liệu mang lại bức tranh kinh tế kỹ thuật rõ ràng với các chỉ số tiết kiệm hàng triệu mét khối khí than mỗi năm, chi phí đầu tư thiết bị hợp lý và thời gian thu hồi vốn ngắn nhằm gia tăng năng lực cạnh tranh.

Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Công nghệ Nhiệt, Kỹ thuật Năng lượng: Công trình là tài liệu tham khảo giàu tính thực tiễn về phương pháp kiểm toán năng lượng trên dây chuyền công nghiệp tự động hóa đồng bộ từ Italia (Sacmi, Nassetti).

Chuyên viên quản lý năng lượng tại các Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Công Thương: Luận văn cung cấp bộ dữ liệu đo đạc thực địa và cơ sở đối chiếu với Quyết định số 1586/QĐ-BXD, hỗ trợ công tác xây dựng định mức tiêu hao năng lượng ngành vật liệu xây dựng tại địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân vì sao hệ số không khí thừa tại lò nung của nhà máy tăng cao lên mức 2,5? Hiện tượng này xuất phát từ việc không khí lạnh bên ngoài lọt vào qua các khe hở cửa nạp liệu đầu lò, kết hợp quạt hút thải ẩm vận hành ở tốc độ cao cuốn khói chưa cháy kiệt ra ngoài. Tình trạng này làm giảm nhiệt độ vùng tiền nung, giảm hiệu suất cháy xuống 81,2% và làm dư thừa 79 ppm CO chưa cháy.

Tại sao hệ thống thu hồi khí nóng trước đây của công ty từng bị dỡ bỏ? Hệ thống cũ sử dụng quạt cấp gió thông thường không chịu được dòng khí 276°C đến 300°C dẫn đến cháy bạc đạn và hỏng đệm chèn. Đồng thời, việc hòa trộn khí nóng làm gia tăng lưu lượng và cột áp tĩnh tại ống góp, làm tắt béc đốt hoặc khiến ngọn lửa cháy lệch xa tâm lò nung.

Mức tiêu hao năng lượng tại Công ty Ý-Mỹ có đạt quy định của Bộ Xây dựng không? Có. Mức tiêu hao nhiệt năng đo được là 1.004,32 kcal/kg đối với sản phẩm gạch Ceramic 50x50 cm. Mức này hoàn toàn đáp ứng quy định tại Quyết định số 1586/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng với mức trần tối đa cho gạch Ceramic là 1.600 kcal/kg sản phẩm, dù đang cao hơn 5,6% so với lịch sử vận hành.

Việc tận dụng nhiệt khói thải lò nung cấp cho lò sấy phụ mang lại hiệu quả gì? Giải pháp thu hồi dòng khói thải ở nhiệt độ 220°C đến 266°C từ quạt A và quạt I của lò nung để cung cấp toàn bộ nhiệt năng cần thiết cho lò sấy phụ. Kỹ thuật này giúp nhà máy cắt giảm hoàn toàn 7.379 m3 khí than tiêu thụ mỗi ngày tại buồng đốt phụ, mang lại lợi ích tài chính trực tiếp.

Yêu cầu kỹ thuật then chốt khi thu hồi khí nóng cho béc đốt lò nung là gì? Nhà máy bắt buộc phải sử dụng quạt ly tâm chuyên dụng chịu nhiệt trên 300°C và duy trì ổn định cột áp tĩnh tại ống góp khí trước béc đốt trong khoảng 0,95 đến 1,0 kPa. Điều này đảm bảo ngọn lửa cháy ổn định tại tâm buồng nung ở nhiệt độ 1.100°C đến 1.200°C.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện bài toán tối ưu hóa nhiệt năng tại dây chuyền sản xuất 1 Công ty Cổ phần Gạch men Ý-Mỹ với các đóng góp trọng tâm:

  • Đo đạc và xác định chính xác mức tiêu hao nhiệt thực tế đạt 1.004,32 kcal/kg sản phẩm, tuân thủ Quyết định số 1586/QĐ-BXD nhưng tăng 5,6% so với thiết kế.
  • Làm rõ nguyên nhân hệ số không khí thừa tăng lên 2,5 khiến hiệu suất cháy lò nung giảm còn 81,2% và phát thải 79 ppm CO.
  • Đề xuất giải pháp thu hồi 32.000 m3/h không khí nóng ở 276°C từ khu vực làm mát gián tiếp cấp lại cho các béc đốt quá trình cháy.
  • Thiết lập phương án tận dụng nhiệt khói thải 220°C đến 266°C từ lò nung để thay thế hoàn toàn 7.379 m3 khí than/ngày tại lò sấy phụ.
  • Giải quyết triệt để vấn đề áp suất tĩnh ống góp trong dải 0,95 đến 1,0 kPa, đảm bảo an toàn kỹ thuật và chất lượng nung gạch.

Doanh nghiệp cần nhanh chóng phê duyệt kế hoạch lắp đặt quạt chịu nhiệt và hệ thống đường ống bảo ôn trong quý tới để sớm hiện thực hóa tiềm năng tiết kiệm hàng nghìn mét khối khí than mỗi ngày.