ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG NHIỆT NĂNG KHU VỰC LÕ NUNG VÀ LÕ SẤY TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN GẠCH MEN Ý-MỸ

Luận văn đánh giá hiệu quả sử dụng nhiệt năng tại lò nung, lò sấy công ty gạch men Ý Mỹ. Giải pháp thu hồi nhiệt, tiết kiệm năng lượng cho sản xuất.

Chuyên ngành

Công Nghệ Nhiệt

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2015

124
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Hiệu Quả Nhiệt Lò Nung Lò Sấy Gạch Ý Mỹ

Ngành sản xuất gạch men tại Việt Nam đang trên đà phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, việc sử dụng năng lượng hiệu quả trong sản xuất, đặc biệt là ở khu vực lò nunglò sấy, vẫn còn nhiều thách thức. Việc đánh giá và tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nhiệt năng tại các nhà máy, điển hình như Gạch Men Ý Mỹ, là vô cùng quan trọng để giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường. Bài viết này sẽ đi sâu vào phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nhiệt năng trong lò nung gạch menlò sấy gạch men tại Gạch Men Ý Mỹ, đồng thời đề xuất các giải pháp cải tiến.

1.1. Ngành Sản Xuất Gạch Men Việt Nam Tổng Quan và Thách Thức

Ngành sản xuất gạch men Việt Nam đã có những bước tiến vượt bậc về sản lượng và năng lực sản xuất. Theo tài liệu gốc, năm 2008, sản lượng gạch ốp lát đạt 255 triệu m2/năm, gạch granite đạt 45 triệu m2/năm. Tuy nhiên, ngành vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, đặc biệt là công nghệ chế biến nguyên liệu và đào tạo nguồn nhân lực. Việc tiết kiệm năng lượng lò nunggiảm tiêu thụ năng lượng lò sấy là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh.

1.2. Hiện Trạng Sử Dụng Nhiệt Năng tại Gạch Men Ý Mỹ

Gạch Men Ý Mỹ là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành sản xuất gạch men tại Việt Nam. Tuy nhiên, việc đánh giá hiệu quả sử dụng nhiệt năng tại khu vực lò nunglò sấy là cần thiết để xác định các điểm lãng phí và đề xuất các giải pháp tối ưu hóa lò nung, tối ưu hóa lò sấy. Theo tài liệu, công ty sử dụng củi trấu ép cho tháp sấy. Việc kiểm tra và cải tiến hệ thống đốt, cũng như tận dụng nguồn năng lượng tái tạo lò sấy là rất quan trọng.

II. Vấn Đề Tiêu Hao Nhiệt Năng Tại Lò Nung Lò Sấy Gạch Men

Quá trình sản xuất gạch men tiêu thụ một lượng lớn nhiệt năng, đặc biệt là trong giai đoạn nung gạchsấy gạch. Việc tiêu hao nhiệt năng không hiệu quả không chỉ làm tăng chi phí sản xuất mà còn gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường. Do đó, việc xác định và phân tích các nguyên nhân gây ra tiêu hao nhiệt năng là bước quan trọng để tìm ra các giải pháp tiết kiệm năng lượnggiảm thiểu chi phí.

2.1. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Hiệu Quả Sử Dụng Nhiệt Năng Lò Nung

Hiệu quả sử dụng nhiệt năng lò nung chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm: công nghệ lò nung gạch men, nhiệt độ lò nung, chất lượng vật liệu chịu lửa lò nung, và quy trình vận hành. Việc kiểm toán năng lượng lò nung giúp xác định các điểm thất thoát nhiệt và đề xuất các biện pháp cải tiến. Việc tận dụng năng lượng tái tạo lò nung cũng là một giải pháp tiềm năng.

2.2. Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Hiệu Quả Sử Dụng Nhiệt Năng Lò Sấy

Tương tự, hiệu quả sử dụng nhiệt năng lò sấy cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: công nghệ lò sấy gạch men, nhiệt độ lò sấy, loại nhiên liệu sử dụng, và hệ thống thông gió. Việc kiểm toán năng lượng lò sấy là cần thiết để đánh giá hiệu suất và đề xuất các giải pháp cải thiện. Theo tài liệu, lò sấy phụ có cấu tạo và vị trí đo riêng, cần được phân tích kỹ lưỡng.

2.3. Khí Thải Lò Nung và Lò Sấy Tác Động Môi Trường và Giải Pháp

Khí thải lò nungkhí thải lò sấy gây ra những tác động tiêu cực đến môi trường. Việc kiểm soát khí thải và áp dụng các công nghệ thân thiện với môi trường là vô cùng quan trọng. Việc thu hồi nhiệt thải và sử dụng nhiên liệu sạch hơn có thể giúp giảm thiểu lượng khí thải và cải thiện chất lượng không khí.

III. Cách Đánh Giá Hiệu Quả Nhiệt Năng Lò Nung Lò Sấy Chi Tiết

Để đánh giá hiệu quả sử dụng nhiệt năng một cách chính xác, cần áp dụng các phương pháp đánh giá hiệu quả nhiệt phù hợp. Các phương pháp này bao gồm việc đo đạc các thông số quan trọng như nhiệt độ, lưu lượng khí, và thành phần nhiên liệu. Dữ liệu thu thập được sẽ được phân tích và so sánh với các tiêu chuẩn năng lượng gạch men để đánh giá hiệu suất hoạt động của lò nunglò sấy.

3.1. Phương Pháp Đo Lường và Thu Thập Dữ Liệu Thực Tế

Việc đo lường và thu thập dữ liệu là bước quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng nhiệt năng. Các thông số cần đo bao gồm: nhiệt độ lò nung, nhiệt độ lò sấy, lưu lượng khí thải, thành phần nhiên liệu, và năng suất. Theo tài liệu, cần đo đạc thực tế tại các vị trí ống khói thải dây chuyền 1. Việc sử dụng thiết bị đo chính xác và đảm bảo quy trình đo lường chuẩn là rất quan trọng.

3.2. Phân Tích và So Sánh Số Liệu Xác Định Tiềm Năng Tiết Kiệm

Sau khi thu thập dữ liệu, cần tiến hành phân tích và so sánh với các tiêu chuẩn năng lượng gạch men. Việc so sánh với các nhà máy khác trong ngành cũng giúp xác định tiềm năng tiết kiệm năng lượng. Việc mô hình hóa nhiệt lò nungmô hình hóa nhiệt lò sấy có thể giúp dự đoán hiệu quả của các giải pháp cải tiến.

IV. Hướng Dẫn Tối Ưu Nhiệt Lò Nung Lò Sấy Gạch Men Ý Mỹ

Dựa trên kết quả đánh giá, có thể đề xuất các giải pháp tối ưu hóa lò nunglò sấy để cải thiện hiệu quả sử dụng nhiệt năng. Các giải pháp này có thể bao gồm việc cải tiến công nghệ đốt, nâng cấp vật liệu chịu lửa, và tận dụng năng lượng tái tạo. Việc lựa chọn giải pháp phù hợp cần cân nhắc đến chi phí đầu tư và hiệu quả kinh tế.

4.1. Giải Pháp Thu Hồi Nhiệt Thải Tiết Kiệm và Bảo Vệ Môi Trường

Một trong những giải pháp hiệu quả nhất để cải thiện hiệu quả sử dụng nhiệt năng là thu hồi nhiệt thải từ lò nunglò sấy. Nhiệt thải có thể được sử dụng để sấy nguyên liệu, gia nhiệt nước, hoặc phát điện. Theo tài liệu, phương án tối ưu là thu hồi nhiệt thải của không khí nóng cấp cho quá trình cháy tại lò nung, và tận dụng nguồn nhiệt thải của lò nung cấp cho lò sấy phụ.

4.2. Cải Tiến Công Nghệ Đốt Tối Ưu Hóa Hiệu Suất Đốt Cháy

Việc cải tiến công nghệ đốt có thể giúp tối ưu hóa hiệu suất đốt cháy và giảm lượng nhiên liệu tiêu thụ. Các giải pháp bao gồm việc sử dụng đầu đốt hiệu suất cao, kiểm soát tỷ lệ không khí/nhiên liệu, và sử dụng hệ thống điều khiển tự động. Cấu tạo và nguyên lý làm việc tại các béc đốt tại lò nung cần được xem xét.

4.3. Nâng Cấp Vật Liệu Chịu Lửa Giảm Thất Thoát Nhiệt

Việc nâng cấp vật liệu chịu lửa lò nungvật liệu chịu lửa lò sấy có thể giúp giảm thất thoát nhiệt và cải thiện hiệu suất. Các loại vật liệu chịu lửa mới có khả năng cách nhiệt tốt hơn và tuổi thọ cao hơn. Cần lựa chọn vật liệu chịu lửa phù hợp với điều kiện làm việc của lò.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Nghiên Cứu Tại Gạch Men Ý Mỹ

Luận văn trình bày cách tính toán thiết kế hệ thống thu hồi nhiệt thải cũng như cách lựa chọn thiết bị phù hợp với điều kiện hoạt động sản xuất hiện tại của mỗi dây chuyền sản xuất. Bên cạnh đó, luận văn này cũng phân tích đánh giá cơ hội tiết kiệm cho từng giải pháp, để doanh nghiệp có cái nhìn khả quan cho việc lựa chọn phương án trước khi bắt tay vào việc ứng dụng giải pháp. Qua việc đánh giá tính kinh tế của hệ thống, luận văn đã đưa ra một số nhận định về điều kiện thực tế đối với các dây chuyền sản xuất gạch men hiện tại ở Việt Nam, việc thu hồi nhiệt thải tại các dây chuyền sản xuất còn rất lớn, nếu ứng dụng các giải pháp thu hồi nhiệt thải này một cách hiệu quả và hợp lý sẽ mang lại một khoản tiền tiết kiệm không nhỏ về cho mỗi doanh nghiệp.

5.1. Tận Dụng Không Khí Nóng Cấp Cho Quá Trình Cháy

Thiết kế hệ thống thu hồi nhiệt từ không khí nóng cấp cho quá trình cháy.Cấu tạo hệ thống thu hồi không khí nóng.Đường đặc tuyến lưu lượng, công suất và áp suất.Quạt ly tâm chịu nhiệt .

5.2. Tận Dụng Nhiệt Khói Thải Lò Nung Cấp Cho Lò Sấy Phụ

Hệ thống thù hồi nhiệt thải lò nung cấp cho lò sấy phụ.Cấu tạo chi tiết tại buồng đốt phụ.Cấu tạo và nguyên lý làm việc tại các béc đốt tại lò nung.Thiết kế ban đầu và lúc sau tại lò sấy phụ. Quá trình hòa trộn giữa hai dòng môi chất.

VI. Kết Luận Tương Lai Tiết Kiệm Nhiệt Cho Lò Nung Lò Sấy

Việc đánh giá hiệu quả sử dụng nhiệt năng lò nunglò sấy là rất quan trọng để giảm chi phí sản xuất và bảo vệ môi trường. Các giải pháp tiết kiệm năng lượng có thể mang lại những lợi ích kinh tế và môi trường đáng kể. Việc ứng dụng các công nghệ mới và quản lý năng lượng hiệu quả sẽ giúp ngành sản xuất gạch men Việt Nam phát triển bền vững.

6.1. Tiềm Năng Tiết Kiệm Năng Lượng Trong Ngành Gạch Men

Tiềm năng tiết kiệm năng lượng trong ngành sản xuất gạch men là rất lớn. Việc áp dụng các giải pháp tối ưu hóa có thể giúp giảm đáng kể lượng nhiệt năng tiêu thụ và giảm phát thải khí nhà kính.

6.2. Kiến Nghị và Đề Xuất Cho Gạch Men Ý Mỹ

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần có những kiến nghị và đề xuất cụ thể cho Gạch Men Ý Mỹ để cải thiện hiệu quả sử dụng nhiệt năng. Các đề xuất có thể bao gồm việc đầu tư vào công nghệ mới, đào tạo nhân viên, và xây dựng hệ thống quản lý năng lượng hiệu quả. Việc bảo trì lò nungbảo trì lò sấy định kỳ cũng rất quan trọng.

06/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Năng lượng là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người, là một yếu tố không thể thiếu được của các hoạt động sản xuất. Khi mức sống của con người ngày càng được nâng cao, trình độ sản xuất của nền kinh tế ngày càng hiện đại thì nhu cầu về năng lượng ngày càng tăng. Vì vậy, việc sử dụng năng lượng trong mỗi doanh nghiệp sản xuất cũng là một vấn đề then chốt và cần giải quyết. Để sử dụng năng lượng một cách tiết kiệm và hiệu quả đặc biệt là không có tác động xấu đến môi trường sống.

Để biết được một doanh nghiệp sản xuất nào đó sử dụng năng lượng có hiệu quả hay không? Đó là vấn đề rất cần thiết đối với một doanh nghiệp. Nhưng để giải quyết vấn đề đó ra sao và hướng tiếp cận để giải quyết vấn đề đó như thế nào? Đó là vấn đề cần phải giải quyết và cũng chính từ những vấn đề này đã đưa tác giả đến việc xây dựng nên một hướng đề tài về việc sử dụng hiệu quả năng lượng trong dây chuyền sản xuất. Cụ thể là : “Đánh giá hiệu quả sử dụng nhiệt năng khu vực lò nung và lò sấy tại Công ty Cổ phần Gạch Men Ý-Mỹ.” với sự hướng dẫn của G S.Lê Chí Hiệp. HVTH: Trần Thanh Long 1 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD:GS.LÊ CHÍ HIỆP Chƣơng 1.

Khái quát chung về ngành sản xuất gạch men tại Việt Nam.1 Quá trình sản xuất gạch men tại Việt Nam. Trước năm 1993, cả nước chỉ có 03 cơ sở sản xuất gạch ốp tường với công suất hơn 200.000 m2/năm là Thanh Trì (Hà Nội), Thanh Thanh (Đồng Nai) và Long Hầu (Thái Bình), sản phẩm chủ yếu là gạch men ốp tường kích thước 100 x 100 mm. Năm 1994, dây chuyền sản xuất gạch gốm ốp lát nền đầu tiên với công nghệ, thiết bị hiện đại, đồng bộ của hãng Welko-Italia, công suất 1 triệu m2 /năm đã được đầu tư tại Hà Nội. Sau đó dây chuyền thứ 2 của hãng Sitti-Italia đã được đầu tư tại nhà máy Thanh Thanh (Đồng Nai).

Năm 1995, hai cơ sở này đi vào sản xuất, cung cấp cho thị trường những lô sản phẩm đầu tiên đạt chất lượng tốt. Việt Nam là một thị trường tiêu thụ gạch gốm ốp lát lớn, nhờ dân số đông, tăng nhanh, thời tiết nắng nóng, mặt khác Việt Nam có điều kiện thuận lợi về nguyên liệu : cao lanh, Fenspat, đất sét trắng cũng như nhiên liệu để sản xuất gạch gốm ốp lát, nên đầu tư trong lĩnh vực này đã tăng trưởng hết sức nhanh chóng. Năng lực sản xuất gạch gốm ốp lát: - Năm 2000 đạt: Gạch ốp lát: 60,7 triệu m2/năm, gạch granite : 6,5 triệu m2/năm. - Năm 2005 đạt: Gạch ốp lát: 150 triệu m2/năm, gạch granite : 25,5 triệu m2/năm.

- Năm 2008 đạt: Gạch ốp lát: 255 triệu m2/năm, gạch granite : 45 triệu m2/năm. 1: Bảng thống kế năng lực sản xuất gạch ốp lát Việt Nam.0 tráng men Gạch 6.0 granite Sau hơn 15 năm phát triển, ngành sản xuất gạch gốm ốp lát Việt Nam đã có bước tiến nhảy vọt cả về sản lượng, năng lực sản xuất, quy mô đầu tư và quy mô thị trường. Đặc biệt từ năm 2005 trở lại đây tốc độ tăng trưởng bình quân đ ạt 20%/năm. Sự tăng đột biến đã diễn ra trong giai đoạn 2007-2009 và nó phản ánh những đặc điểm nổi bật sau đây: HVTH: Trần Thanh Long 2 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD:GS.LÊ CHÍ HIỆP Các dự án đầu tư ở khu vực phía bắc có xu hướng tăng hơn các khu vực ở phía nam, đặc biệt xuất hiện các nhà đầu tư lớn như Tập đoàn Prime Group đã đầu tư tăng công suất từ 45 triệu m2/năm vào năm 2006 đến 80 triệu m2 /năm vào năm 2008.

Các cơ sở đầu tư mới ở Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ngãi có công suất ban đầu tối thiểu 3.000 m2/năm và có phương án mở rộng tăng công suất lên gấp đôi, gấp ba trong những năm tới. Các nhà máy đã cổ phần hoá đều mở rộng công suất trên mặt bằng hiện có như: Vitaly, Thanh Thanh, Viglacera Thăng Long và đặc biệt là các nhà máy ở Miền Trung như: Ceramic Thanh Hoá, Cosevco Quảng Bình, Granit Trung Đô, Hucera Huế,. Các nhà máy cổ phần, tư nhân đều có quy mô mở rộng lớn như: Mikado, Thái Bình, Thanh Hà Phú Thọ và các nhà máy vùng Hưng Yên, Hải Dương. Từ thực tế trên cho thấy xu hướng phát triển gạch gốm ốp lát ceramic đang phát triển theo xu hướng tư nhân, hình thành các tập đoàn lớn nhằm tăng sức cạnh tranh sản phẩm, đó là xu hướng phát triển đúng đắn.

Mặc dù ngành sản xuất gốm ốp lát Việt Nam phát triển nhanh, năng lực lớn đưa Việt Nam trở thành một trong những quốc gia sản xuất gạch gốm ốp lát có tên tuổi ở khu vực và thế giới. Tuy nhiên, ngành gốm sứ Việt Nam chưa có một ngành công nghiệp chế biến nguyên liệu tương xứng. Trước hết là nhận thức của các nhà đầu tư về nguyên liệu đầu vào chưa đúng mức, đã thả lỏng khâu chế biến nguyên liệu đầu vào dẫn đến quá trình sản xuất sản phẩm chịu những tác động không tốt, hiệu quả sản xuất thấp. Nguyên nhân là do sự phát triển nhỏ lẻ và phân tán.

Ở các cường quốc sản xuất gạch gốm ốp lát trên Thế giới như: Tây Ban Nha, Italia, Trung Quốc họ đã xây dựng những khu chế biến nguyên liệu lớn như: Castlon (Tây Ban Nha), Sasuolo (Italya) ho ặc Phật Sơn (Trung Quốc) với rất nhiều nhà máy chế biến nguyên liệu công suất lớn, cung cấp bột xương cho rất nhiều nhà máy trong khu vực. Mức độ chuyên môn hoá sản xuất ở các nước này rất cao, có nhiều nhà máy chuyên môn nung các xương gốm, các nhà máy chuyên môn tráng men và nung theo từng cấp độ trang trí bề mặt. Việt Nam cần đi theo khuynh hướng này mới nâng cao được năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh với các sản phẩm nhập khẩu. Một trong những điểm yếu rất cơ bản của ngành sản xuất gốm ốp lát Việt Nam là khâu đào tạo công nhân và cán bộ kỹ thuật.

Đây là một vấn đề bất cập lớn. Hiện HVTH: Trần Thanh Long 3 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD:GS.LÊ CHÍ HIỆP nay, hầu hết các cơ sở sản xuất tự đào tạo nguồn nhân lực cho cơ sở sản xuất của mình. Nhà nước chưa có chương trình đào tạo để cung cấp nguồn nhân lực cho ngành sản xuất gốm ốp lát. Vì vậy cần quan tâm đầu tư nhiều hơn nữa cho lĩnh vực này.2 Hiện trạng công nghệ sản xuất gạch men tại Việt Nam.1 Công nghệ sản xuất.

Trước năm 1993, cả nước có 3 cơ sở sản xuất gạch ốp tường, trong đó Công ty Thanh Thanh Đồng Nai là cơ sở duy nhất được trang bị đồng bộ một dây chuyền sản xuất gạch gốm theo công nghệ của những năm 70. Ngoài ra, trong thời gian này còn có một vài cơ sở sản xuất quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, chủ yếu là sản xuất thủ công như Thanh Trì (Hà Nội), Long Hầu (Thái Bình). Công nghệ sản xuất gạch gốm ốp lát của nước ta từ năm 1994 đến nay được nhập khẩu từ châu Âu, chủ yếu là từ Italia là công nghệ sản xuất gạch gốm ốp lát hiên đại, tự động hoá đồng bộ toàn dây chuyền công nghệ từ khâu gia công nguyên liệu đến bao gói sản phẩm. So với công nghệ sản xuất trước năm 1993 thì khác nhau ở hai công đoạn chính là sấy phun tạo bột ép và nung nhanh.

Trước 1993 công nghệ tạo bột ép bằng phương pháp nghiền mịn, trộn, phun ẩm. Với phương pháp này bột liệu có thành phần không đều độ ẩm dao động lớn, không khống chế được độ hại do đó sản phẩm sau khi nung có độ sai lệch kích thước lớn. Công nghệ nung trước năm 1993 là nung 2 l ần (nung xương), sau đó tráng men nung trong lò tuy nen. Công nghệ nung hiện nay là nung nhanh một lần hoặc hai lần trong lò con lăn với thời gian nung khoảng 35 đến 60 phút thay vì nung 20 đến 30 giờ theo công nghệ cũ.

Dây chuyền công nghệ sản xuất gạch gốm ốp lát phổ biến hiện nay có thể tóm tắt như sau: a) Chuẩn bị bột xƣơng: Nguyên liệu thô được khai thác hoặc mua về nhà máy và đưa vào kho dự trữ theo từng loại riêng biệt. Nguyên liệu được cân định lượng chính xác từng loại sau đó nạp vào phễu để cấp cho máy nghiền bi. Nghiền liệu sử dụng phương pháp nghiền ướt theo mẻ trong máy nghiền bi dung tích 30. Sau khi nghiền, hồ có độ ẩm khoảng 35% được xả vào bể chứa có máy khuấy.

Từ bể khuấy, hồ được đồng nhất, qua sàng rung, lọc sắt từ và bơm cấp vào lò sấy phun. HVTH: Trần Thanh Long 4 LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP GVHD:GS.LÊ CHÍ HIỆP Hồ sau sấy phun tạo thành bột có độ ẩm khoảng 6% được các băng tải, gầu tải đưa vào dự trữ trong các silô chứa. b) Ép và sấy gạch mộc: Bột ép được tháo ra khỏi silô tự động, qua băng tải, gầu tải vào phễu máy ép và cấp cho khuôn ép. Máy ép hoạt động tự động theo chương trình cài đặt sẵn.

Lực ép tối đa của máy ép được lựa chọn tuỳ thuộc vào kích thước sản phẩm. Đối với gạch ốp, kích thước sản phẩm thông thường 200 x 300 mm thì lực ép tối đa chỉ cần 1500 tấn. Đối với gạch gốm lát tráng men và gạch gốm granit kích thước đến 600 x 600 mm hoặc 600 x 900 mm thì lực ép tối đa khoảng 3200 tấn. Muốn sản xuất loại sản phẩm có kích thước đến 1200 x 1200 mm hoặc 1200 x 1800 mm thì phải có máy ép siêu lớn, lực ép đến 6200 tấn hoặc 7200 tấn.

Gạch sau khi ép xong được đẩy ra khỏi khuôn, thổi sạch bụi và chạy trên băng chuyền vào lò sấy thanh lăn. Thời gian sấy trung bình cho gạch ốp khoảng 14 phút và gạch lát khoảng 16 phút. Nhiệt độ sấy tối da 250 0C. c) Nung gạch: Có thể lựa chọn công nghệ nung một lần hoặc nung hai lần.

Nung hai lần thì năng suất cao và gạch ít phế phẩm hơn. Ở Việt Nam thường lựa chọn nung một lần để sản xuất gạch lát và nung hai lần để sản xuất gạch ốp. Nung lần một: Gạch mộc ra khỏi lò sấy được đưa thẳng vào lò nung thanh lăn. Chu kỳ nung khoảng 42 - 45 phút, nhiệt độ nung 1050 0 - 1100 0C.

Gạch nung xong được đưa qua thiết bị kiểm tra để loại bỏ các viên nứt và khuyết tật bề mặt, sau đó đưa sang dây chuyền tráng men.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ