MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá, không thể tái tạo được đối với mỗi quốc gia. Đặc biệt là đất nông nghiệp có hạn về diện tích, có nguy cơ bị suy thoái dưới tác động của thiên nhiên và những hoạt động sử dụng đất thiếu hiểu biết của con người trong quá trình sản xuất. Khi xã hội phát triển, dân số tăng nhanh, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh, kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về nhu cầu lương thực cũng như nhu cầu về đất sử dụng cho các mục đích chuyên dùng.
Điều này đã gây ra áp lực ngày càng lớn đối với đất sản xuất nông nghiệp, làm cho quỹ đất nông nghiệp luôn có nguy cơ bị suy giảm diện tích, trong khi khả năng khai hoang những vùng đất mới có khả năng sản xuất nông nghiệp gần như đã cạn kiệt. Do vậy, việc nghiên cứu đánh giá tiềm năng đất sản xuất nông nghiệp và sử dụng có hiệu quả trên quan điểm sinh thái, bền vững đang ngày càng trở nên cấp thiết, quan trọng đối với mỗi quốc gia cũng như những vùng đất sản xuất nông nghiệp trong từng vùng riêng biệt để từ đó đưa ra được các giải pháp mang tính chiến lược trong sử dụng đất lâu bền. Chè là một cây được trồng và sử dụng từ lâu đời ở Việt Nam. Nước ta có một số vùng có điều kiện sinh thái (đất, khí hậu, địa hình.) rất thích hợp cho cây chè sinh trưởng phát triển.
Chất lượng nguyên liệu (chè búp tươi) của ta ở những vùng này nhìn chung tương đương loại chè tốt của thế giới. Chè còn là một trong những sản phẩm xuất khẩu quan trọng trong nông nghiệp ở nước ta. Hiện nay, trên thế giới có 41 nước trồng và chế biến chè thì Việt Nam đứng thứ 5 về diện tích và đứng thứ 8 về sản lượng xuất khẩu chè. Sản xuất chè đã mang lại thu nhập đáng kể cho người lao động, tuy nhiên sản xuất chè của cả nước nói chung vẫn chưa theo kịp được một số nước như Ấn Độ, Trung Quốc, Srilanca, Kênia.
2 Thái Nguyên là một tỉnh miền núi thuộc vùng Trung du Miền núi Bắc Bộ, cách thủ đô Hà Nội 45 km về phía Bắc với diện tích tự nhiên là 353.101,67 ha, là vùng đất đai có truyền thống và kinh nghiệm về trồng và chế biến chè, nhờ điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng đã tạo ra được hương vị đặc biệt của chè Thái không thể lẫn với các loại chè khác với hương vị nổi tiếng như chè Tân Cương, chè Trại Cài…. Thái Nguyên là một vùng chè trọng điểm trong cả nước với diện tích 17.661 ha (năm 2010), trong đó có trên 16.289 ha chè kinh doanh với sản lượng hàng năm là 171. Người dân Thái Nguyên có nhiều kinh nghiệm trong việc trồng và chế biến chè. Chè Thái Nguyên nổi tiếng trong cả nước không chỉ về quy mô mà còn do chất lượng ngon đặc trưng của nó.
Hiện nay, cây chè đang được coi là cây trồng mũi nhọn của tỉnh. Trồng chè không những khai thác tốt tiềm năng vốn có về điều kiện khí hậu, đất đai của tỉnh mà còn góp phần trong việc xoá đói giảm nghèo, tiến tới làm giàu, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá nông thôn. Đồng thời, phát triển cây chè góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chống xói mòn, rửa trôi, bảo vệ đất và môi trường. Ngoài ra, cây chè còn đảm bảo yêu cầu về giải quyết lao động, thu nhập cho người dân, giải quyết nguyên nhiên liệu cho các cơ sở chế biến trong tỉnh, hơn nữa cây chè còn có vai trò quan trọng là tạo lập cảnh quan môi trường sinh thái.
Vì vậy, phát triển cây chè sẽ góp phần tích cực vào quá trình phát triển của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa với tốc độ nhanh và bền vững. Tuy nhiên, ở một số địa phương trong vùng trồng vẫn chưa phát huy hết so với tiềm năng đất đai vốn có. Năng suất, chất lượng và giá cả chè của một số địa phương còn thấp chưa tương xứng với nhãn hiệu Chè Thái. Mặt khác, phương thức sản xuất của hộ trồng chè còn nhỏ lẻ thủ công dựa vào kinh nghiệm là chính.
Việc bón phân và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật còn chưa đúng cách và thiếu hiệu quả. Nhiều hộ trồng chè chưa biết áp dụng khoa 3 học kĩ thuật vào sản xuất nên năng suất vẫn chưa cao chất lượng vẫn chưa được đảm bảo. Chính vì thế, cần có sự đánh giá đúng thực trạng để thấy rõ được những vấn đề còn tồn tại, từ đó đề ra các giải pháp phát triển sản xuất sao cho có hiệu quả cao nhất. Xuất phát từ thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên”.
MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Trên cơ sở điều tra hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp, đánh giá hiệu quả sản xuất chè ở Thái Nguyên làm cơ sở đề xuất hướng cải tạo và sử dụng hợp lý hơn nguồn tài nguyên đất đai. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI - Đánh giá được thực trạng và hiệu quả sản xuất chè tại địa bàn tỉnh Thái Nguyên. - Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng, bảo vệ đất trồng chè ở những vùng có tiềm năng và cho thu nhập cao của các nông hộ sản xuất chè trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
NGUỒN GỐC, PHÂN LOẠI VÀ SỰ PHÂN BỐ CỦA CÂY CHÈ 2. Nguồn gốc Nguồn gốc cây chè là vấn đề phức tạp, cho đến nay có nhiều quan điểm khác nhau dựa trên những lịch sử, khảo cổ học và thực vật học nói về nguồn gốc của cây chè. Trong đó, có một số quan điểm được nhiều người công nhận là: - Cây chè có nguồn gốc từ Trung Quốc: Năm 1753, lần đầu tiên nhà thực vật học Thuỵ Điển Carl Von Linnaeus đã xác nhận Trung Quốc là vùng nguyên sản cây chè và đặt tên khoa học cho cây chè là Thea Sinenis, phân thành 2 thứ chè là Thea Bohea (chè đen) và Thea Viridis (chè xanh) (Lê Tất Khương, 1997) [9]. Năm 1918, Cohen Stuart, nhà phân loại thực vật Hà Lan đã đưa ra thuyết hai nguồn gốc cây chè (Nhị Nguyên thuyết): cây chè lá to có nguồn gốc ở phía Tây cao nguyên Tây Tạng.
Cây chè lá nhỏ có nguồn gốc ở phía Đông và Đông Nam Trung Quốc. Năm 1951, tác giả Đào Thừa Trân (Trung Quốc) tổng kết ý kiến của các nhà khoa học trên thế giới và đã đi đến kết luận là nguyên sản của cây chè là tỉnh Vân Nam - Trung Quốc. Chúng di thực về phía Đông qua tỉnh Tứ Xuyên, bị ảnh hưởng của khí hậu nên biến thành loại chè lá nhỏ và di thực về phía Nam và Tây Nam ấn Độ, Mianma và Việt Nam biến thành dạng chè là to. Theo giáo sư Trang Vãn Phương (Trung Quốc) cũng có kết luận rằng, cây chè tại tỉnh Vân Nam - Trung Quốc là loại hình nguyên thuỷ già nhất (Lê Tất Khương, 1997) [9].
Có tác giả cho rằng, cây chè có nguồn gốc từ các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam và tỉnh Vân Nam - Trung Quốc. Theo (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [15] thì cách đây 4.000 năm người Trung Quốc (lần đầu tiên trên thế giới) đã biết dùng cây chè làm dược liệu, sau đó dùng làm nước uống. - Cây chè có nguồn gốc ở vùng Atxam - ấn Độ: Theo (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [10] thì năm 1823, R.Bruce đã phát hiện được những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam - Ấn Độ trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm thực vật học và đã đi đến kết luận: Nguyên sản của cây chè là vùng Atxam - Ấn Độ. - Cây chè có nguồn gốc ở vùng Tây Bắc - Việt Nam: Những công trình nghiên cứu của (Djemukhatze, 1976) [33] từ năm 1961 - 1976 đã tiến hành điều tra cây chè dại tại Hà Giang, Nghĩa Lộ, Lào Cai và Tam Đảo trên cơ sở phân tích sinh hoá để so sánh với loại chè trồng trọt, từ đó tìm ra sự tiến hoá của cây chè làm cơ sở xác định nguồn gốc.
Djemukhatze thấy rằng, phức catechin của lá chè có nguồn gốc khác nhau. Cây chè ở Việt Nam tổng hợp các catechin đơn giản hơn nhiều cây chè ở Vân Nam, các chất catechin của 6 cây chè Vân Nam phức tạp hơn cây chè Việt Nam, như vậy cây chè ở Vân Nam là một loại hình tiến hoá sau cây chè Việt Nam, trên cơ sở đó Djemukhatze đã kết kuận nguồn gốc cây chè chính là ở vùng Tây Bắc - Việt Nam. Thực tế hiện nay, phần đông các nhà khoa học cho rằng nguyên sản của cây chè là cả một vùng từ Atxam - ấn Độ sang Mianma, Vân Nam - Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan. Từ đó, chia làm hai nhánh, một đi xuống phía Nam và một đi lên phía Bắc, trung tâm là vùng Vân Nam - Trung Quốc.
Điều kiện khí hậu ở đây rất lý tưởng cho cây chè sinh trưởng quanh năm (Đặng Hạnh Khôi, 1983) [2] và (Wantanabe và Dassanayake, 1999) [34]. Phân loại cây chè Tên của cây chè đã trải qua nhiều tranh luận và có rất nhiều cách đặt tên. Tên gọi đầu tiên được nhà khoa học Thụy Điển Linne đặt là Thea Sinensis vào năm 1753. Đến nay, tên khoa học của cây chè được nhiều người công nhận nhất là Camellia Sinensis (L) Okuntze (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [15].
Trong hệ thống phân loại thực vật, chè được xếp loại như sau: - Ngành hạt kín: Angiosepermae - Bộ chè : Theales - Họ chè : Theales - Chi chè : Camellia (Thea) - Loài : Sinensis Cây chè được chia thành nhiều thứ chè, căn cứ vào đặc điểm các cơ quan dinh dưỡng (thân, lá, búp…), cơ quan sinh thực (cánh hoa, dài hoa, nhị, nhụy, hoa, quả…) và đặc tính sinh hoá (hàm lượng Tanin, Cafein…) mà các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều bảng phân loại chè. Bảng phân loại được nhiều người công nhận nhất là bảng phân loại của Cohen Stuart (1919) (Nguyễn Ngọc Kính, 1979) [15], tác giả đã chia Camellia Sinensis (L) Okuntze làm 4 thứ chè chính như sau: - Chè Trung Quốc lá nhỏ (Camellia Sinensis Var Microphylla): phân bố chủ yếu ở miền đông, đông nam Trung Quốc, Nhật Bản và một số vùng khác. - Chè Trung Quốc lá to (Camellia Sinensis Var Macrophylla): Nguyên sản ở Vân Nam, Tứ Xuyên (Trung Quốc). 7 - Chè Shan (Camellia Sinensis Var Shan): Nguyên sản ở Vân Nam - Trung Quốc, miền bắc của Miến Điện và Việt Nam.
- Chè Atxam (chè ấn Độ ) (Camellia Sinensis Var Atxamica): được trồng nhiều ở ấn Độ, Miến Điện, Vân Nam (Trung Quốc) và một số vùng khác.