Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Đất đai là tài nguyên thiên nhiên có hạn nhưng chịu áp lực ngày càng gia tăng từ sự phát triển kinh tế - xã hội, gia tăng dân số và tốc độ đô thị hóa. Tại thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai — đô thị được thành lập theo Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội từ ngày 01/06/2019 trên cơ sở thị xã Long Khánh cũ — quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra nhanh chóng. Địa bàn có hai khu công nghiệp tập trung là Khu công nghiệp Long Khánh và Khu công nghiệp Suối Tre, kéo theo nhu cầu chuyển đổi quỹ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp để phục vụ hạ tầng, công nghiệp và khu dân cư.
Thực tiễn sản xuất nông nghiệp tại Long Khánh có nhiều lợi thế nhờ tài nguyên đất đỏ bazan màu mỡ, thích hợp cho các loại cây công nghiệp và cây ăn quả giá trị cao như sầu riêng, chôm chôm, măng cụt, cà phê, cao su. Áp lực an ninh lương thực đã giảm bớt, nông dân chuyển dịch từ độc canh cây lúa sang đa dạng hóa cây trồng tạo nông sản hàng hóa. Tuy nhiên, sản xuất còn mang tính nhỏ lẻ, tự phát và thiếu quy hoạch đồng bộ. Việc đánh giá toàn diện hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp là cơ sở khoa học cần thiết nhằm định hướng phát triển bền vững tài nguyên đất tại địa phương.
Đề tài xác định hệ thống mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp làm cơ sở định hướng sử dụng đất trong tương lai trên địa bàn thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
- Mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá thực trạng sử dụng đất sản xuất nông nghiệp tại thành phố Long Khánh.
- Đánh giá hiệu quả các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp chính tại thành phố Long Khánh.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại thành phố Long Khánh.
Nhiệm vụ nghiên cứu tập trung vào ba nội dung: phân tích hiện trạng và biến động đất nông nghiệp giai đoạn 2015 – 2019; tính toán hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường của các loại hình sử dụng đất chính; đề xuất phương án chuyển dịch và giải pháp thực hiện.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đất sản xuất nông nghiệp và các loại hình sử dụng đất (LUT) nông nghiệp chủ yếu trên địa bàn thành phố Long Khánh.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tập trung khảo sát thực địa chuyên sâu tại 2 địa bàn đại diện cho 2 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của thành phố là xã Bảo Quang (tiểu vùng đa dạng loại đất, giàu dinh dưỡng, nguồn nước ngầm dồi dào, phù hợp cây ăn quả và cây lương thực) và phường Xuân Lập (tiểu vùng nghèo dinh dưỡng hơn, nguồn nước ngầm hạn chế).
- Phạm vi thời gian: Chuỗi số liệu thống kê thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2015 – 2019; số liệu khảo sát nông hộ sơ cấp thực hiện năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu vận dụng khung pháp lý và hệ thống khái niệm chuyên ngành quản lý đất đai:
- Khái niệm đất nông nghiệp: Căn cứ theo Điều 10 Luật Đất đai năm 2013, phân định các nhóm đất nông nghiệp gồm đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa và cây hàng năm khác), đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác.
- Loại hình sử dụng đất (Land Use Type - LUT): Được tiếp cận theo định nghĩa của FAO, mô tả thực trạng sử dụng đất của một vùng với phương thức quản lý sản xuất nhất định trong điều kiện kỹ thuật và kinh tế - xã hội xác định.
- Khung đánh giá hiệu quả sử dụng đất bền vững: Tích hợp đồng thời 3 khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường:
- Hiệu quả kinh tế: Đánh giá qua Giá trị sản xuất ($GTSX = \text{Sản lượng} \times \text{Giá thành}$), Chi phí trung gian ($CPTG$), Giá trị gia tăng ($GTGT = GTSX - CPTG$), và Hiệu quả đồng vốn ($HQĐV = GTGT / CPTG$).
- Hiệu quả xã hội: Xác định qua nhu cầu giải quyết việc làm (số công lao động/ha) và Giá trị ngày công lao động ($GTNCLĐ = GTGT / \text{Tổng công lao động}$).
- Hiệu quả môi trường: Đánh giá định lượng qua 2 tiêu chí là mức độ sử dụng phân bón và mức độ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) so với định mức kỹ thuật.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: Phân chia thành phố thành 2 tiểu vùng sinh thái nông nghiệp để chọn xã Bảo Quang và phường Xuân Lập làm địa bàn khảo sát chi tiết.
- Phương pháp thu thập số liệu:
- Thu thập số liệu thứ cấp: Báo cáo thống kê đất đai, hiện trạng môi trường, phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2015 – 2019 từ Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Long Khánh và UBND các xã, phường.
- Thu thập số liệu sơ cấp: Tiến hành phỏng vấn 40 hộ nông dân trực tiếp canh tác (20 hộ tại xã Bảo Quang, 20 hộ tại phường Xuân Lập) theo bảng hỏi cấu trúc về diện tích, chi phí giống, phân bón, thuốc BVTV, công lao động và sản lượng; tham vấn chuyên gia với 3 cán bộ (Chủ tịch Hội Nông dân xã Bảo Quang, Chủ tịch Hội Nông dân phường Xuân Lập, Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Long Khánh).
- Phương pháp tính toán và xử lý số liệu: Số liệu được tổng hợp, xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel. Đề tài xây dựng hệ thống thang điểm phân cấp từ 1 đến 3 (Thấp = 1, Trung bình = 2, Cao = 3) cho từng chỉ tiêu:
| Trụ cột |
Chỉ tiêu phân cấp |
Mức Cao (3 điểm) |
Mức Trung bình (2 điểm) |
Mức Thấp (1 điểm) |
| Kinh tế (tính cho 1 ha) |
- GTSX (triệu đồng) - GTGT (triệu đồng) - HQĐV (lần) |
> 250 > 150 > 2,0 |
150 - 250 100 - 150 1,5 - 2,0 |
< 150 < 100 < 1,5 |
| Xã hội (tính cho 1 ha) |
- Công lao động (công) - GTNCLĐ (nghìn đồng) |
> 400 > 450 |
100 - 400 200 - 450 |
< 100 < 200 |
| Môi trường |
- Lượng phân bón - Thuốc BVTV |
Dưới định mức Dưới định mức |
Trong định mức Trong định mức |
Vượt định mức Vượt định mức |
Tổng hợp đánh giá 3 trụ cột được chia thành 3 mức: LUT hiệu quả cao (15 – 21 điểm), LUT hiệu quả trung bình (7 – 14 điểm), LUT hiệu quả thấp (< 7 điểm).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương này trình bày cơ sở lý luận về đất nông nghiệp, loại hình sử dụng đất (LUT), khái niệm hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường theo quan điểm phát triển bền vững. Tác giả tổng thuật bức tranh sử dụng đất trên thế giới với thực trạng suy thoái, xói mòn (trung bình 1,8 – 3,4 tấn/ha/năm), mất 15 triệu ha rừng/năm và sa mạc hóa đe dọa 1/3 diện tích đất liền. Tại Việt Nam, diện tích tự nhiên là 33.121,20 nghìn ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 24.696 nghìn ha (74,56%), nhưng đất canh tác bình quân đầu người thuộc nhóm thấp trên thế giới. Tác giả dẫn chứng các công trình đánh giá hiệu quả đất nông nghiệp trong nước như nghiên cứu tại huyện Ân Thi - Hưng Yên của Đỗ Văn Nhạ và Nguyễn Thị Phong Thu (2016), nghiên cứu tại huyện Trà Bồng - Quảng Ngãi của Lý Thị Duyên và Hoàng Thị Thái Hòa (2017).
Về điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội địa bàn nghiên cứu, thành phố Long Khánh có tổng diện tích tự nhiên là 19.174,97 ha, nằm ở độ cao trung bình 150 m so với mực nước biển, thuộc vùng chuyển tiếp Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Tài nguyên đất gồm 4 nhóm chính:
- Đất đỏ trên đá bazan (Ferrasols): 11.488,13 ha (chiếm 59,91% diện tích tự nhiên), tập trung ở phía Tây và Tây Nam, tầng đất dày, độ phì cao, rất thích hợp cho cây ăn quả và cây công nghiệp lâu năm.
- Đất đen trên đá bazan (Luvisols): 6.815,59 ha (35,54%), phân bố tại Bảo Quang, Bàu Trâm, Bảo Vinh, thích hợp cho cây ngắn ngày.
- Đất đá bọt (Andosols): 822,27 ha (3,43%), tầng mặt lẫn nhiều đá bọt tại Hàng Gòn, Xuân Tân, ít thuận lợi cho trồng trọt.
- Đất tầng mỏng (Leptosols): 49,01 ha (0,26%), kém thích nghi nông nghiệp.
Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, lượng mưa trung bình 2.139 mm/năm (tập trung 85 - 90% vào mùa mưa), lượng bốc hơi mùa khô chiếm 64 - 67% gây thiếu nước cục bộ. Nguồn nước ngầm giàu chiếm 53% diện tích, tập trung tại Bảo Quang, Bình Lộc, Hàng Gòn; diện tích rừng chỉ có 4,7 ha rừng phòng hộ tại xã Hàng Gòn. Dân số năm 2019 đạt 145.330 người, mật độ 734 người/km². Lao động trong độ tuổi đạt 104.650 người; tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 29,6% (năm 2015) xuống 24,3% (năm 2019). Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 5,9%/năm giai đoạn 2015 – 2019.
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 mô tả chi tiết quy trình tổ chức nghiên cứu. Tác giả lựa chọn 2 địa bàn đại diện: xã Bảo Quang (vùng đất màu mỡ, đủ nước, trồng chuyên canh cây ăn quả xen cây lương thực) và phường Xuân Lập (khó khăn hơn về nguồn nước, tầng đất mỏng hơn).
Nguồn số liệu sơ cấp được thiết lập qua điều tra 40 hộ nông dân bằng phiếu khảo sát chuẩn hóa và tham vấn 3 chuyên gia địa phương. Số liệu thứ cấp thu thập qua niên giám thống kê, hồ sơ địa chính và báo cáo môi trường giai đoạn 2015 – 2019. Tác giả thiết lập công thức tính toán GTSX, CPTG, GTGT, HQĐV, GTNCLĐ và phương pháp quy đổi điểm số cho 3 nhóm tiêu chí kinh tế, xã hội và môi trường theo khung chuẩn hóa 3 mức (Cao, Trung bình, Thấp) để phân hạng tổng hợp các loại hình sử dụng đất.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Nội dung chương 3 phân tích thực trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2019, biến động sử dụng đất giai đoạn 2015 – 2019, đánh giá hiệu quả từng loại hình và đề xuất giải pháp.
Năm 2019, tổng diện tích đất nông nghiệp của Long Khánh là 16.202,9 ha, chiếm 84,50% diện tích tự nhiên; đất phi nông nghiệp chiếm 2.972,1 ha (15,50%). Trong cơ cấu đất nông nghiệp:
- Đất sản xuất nông nghiệp chiếm 99,2% (16.091,7 ha), trong đó đất trồng cây lâu năm chiếm ưu thế tuyệt đối với 14.261,6 ha (88,73%); đất trồng cây hàng năm có 1.811,0 ha (11,27%, gồm đất lúa 1.216,5 ha và cây hàng năm khác 594,5 ha).
- Đất lâm nghiệp chỉ có 4,7 ha (0,03%, toàn bộ là rừng phòng hộ).
- Đất nuôi trồng thủy sản chiếm 41,8 ha (0,26%).
- Đất nông nghiệp khác chiếm 66,7 ha (0,41%).
Về biến động giai đoạn 2015 – 2019, diện tích đất nông nghiệp giảm 85,7 ha (từ 16.288,6 ha năm 2015 xuống 16.202,9 ha năm 2019). Trong đó, đất trồng cây lâu năm giảm nhiều nhất (-81,9 ha) do chuyển sang đất ở và công trình hạ tầng phục vụ quá trình lên thành phố; đất lúa giảm nhẹ (-1,9 ha); đất cây hàng năm khác giảm 12 ha; đất nông nghiệp khác tăng 10,1 ha; đất lâm nghiệp và thủy sản ổn định.
Khảo sát tại xã Bảo Quang xác định 3 nhóm loại hình (cây hàng năm gồm lúa, bắp; cây ăn quả; cây công nghiệp), trong đó lúa chiếm 41,73% diện tích khảo sát. Tại phường Xuân Lập, cơ cấu chỉ gồm 2 nhóm chính: cây ăn quả (chôm chôm chiếm 44%, sầu riêng chiếm 39%) và cây công nghiệp.
Kết quả đánh giá hiệu quả:
- Về kinh tế: Sầu riêng đạt GTSX cao nhất tại cả 2 địa bàn (480 – 500 triệu đồng/ha/năm). Măng cụt tại Bảo Quang đạt GTSX 180 triệu đồng/ha, CPTG 59,04 triệu đồng/ha, GTGT 120,96 triệu đồng/ha, HQĐV 2,05 lần; tại Xuân Lập đạt GTSX 187,2 triệu đồng/ha, CPTG 58,032 triệu đồng/ha, GTGT 129,168 triệu đồng/ha, HQĐV 2,23 lần. Cây bắp có GTSX thấp nhất (16,1 triệu đồng/ha). Cây điều cho hiệu quả thấp (GTSX đạt 30 – 32,5 triệu đồng/ha, GTGT đạt 19,02 – 20,67 triệu đồng/ha, HQĐV đạt 1,75 – 1,78 lần). Nhóm cây ăn quả (sầu riêng, bưởi, măng cụt) đạt cấp điểm kinh tế cao hơn hẳn cây hàng năm và cây công nghiệp.
- Về xã hội: Tiêu sử dụng nhiều lao động nhất (700 công/ha) nhưng GTNCLĐ thấp (203.000 đồng/công). Sầu riêng sử dụng 640 công/ha và cho GTNCLĐ cao nhất (525.000 đồng/công). Măng cụt tại Bảo Quang sử dụng 250 công/ha, GTNCLĐ đạt 484.000 đồng/công; tại Xuân Lập sử dụng 300 công/ha, GTNCLĐ đạt 430.670 đồng/công. Cây lúa và bắp sử dụng ít công (86 và 50 công/ha) với GTNCLĐ lần lượt là 188.370 đồng/công và 192.000 đồng/công. Điều sử dụng 90 – 100 công/ha, GTNCLĐ đạt 190.000 – 230.000 đồng/công.
- Về môi trường: Măng cụt đạt điểm tối đa (6 điểm: phân bón 3 điểm, thuốc BVTV 3 điểm) do nông dân canh tác dưới định mức hóa chất. Điều đạt mức trung bình (4 điểm: phân bón 2 điểm, thuốc BVTV 2 điểm).
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu lượng hóa chi tiết các chỉ số kinh tế, xã hội và môi trường của các loại hình sử dụng đất chính qua bảng tổng hợp sau:
| Địa bàn |
Loại hình sử dụng đất |
GTSX (tr.đ/ha) |
CPTG (tr.đ/ha) |
GTGT (tr.đ/ha) |
HQĐV (lần) |
Lao động (công/ha) |
GTNCLĐ (nghìn đ/công) |
Điểm MT (Phân bón/BVTV) |
| Xã Bảo Quang |
Sầu riêng |
480 - 500 |
- |
- |
- |
640 |
525,00 |
- |
|
Măng cụt |
180,00 |
59,04 |
120,96 |
2,05 |
250 |
484,00 |
6 (3/3) |
|
Tiêu |
- |
- |
- |
- |
700 |
203,00 |
- |
|
Điều |
32,50 |
11,83 |
20,67 |
1,75 |
90 |
230,00 |
4 (2/2) |
|
Lúa |
- |
- |
- |
- |
86 |
188,37 |
- |
|
Bắp |
16,10 |
- |
- |
- |
50 |
192,00 |
- |
| Phường Xuân Lập |
Măng cụt |
187,20 |
58,03 |
129,17 |
2,23 |
300 |
430,67 |
6 (3/3) |
|
Điều |
30,00 |
10,08 |
19,02 |
1,78 |
100 |
190,00 |
- |
Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất được tác giả đề xuất:
- Quy hoạch chuyển dịch cơ cấu cây trồng: Giữ ổn định diện tích lúa nước tại các khu vực thấp trũng ven suối nhằm đảm bảo an ninh lương thực cục bộ; nhân rộng mô hình chuyên canh cây ăn quả có giá trị cao (sầu riêng, bưởi, măng cụt) tại vùng đất đỏ bazan.
- Chuyển đổi cây trồng kém hiệu quả: Giảm diện tích cây công nghiệp già cỗi, năng suất thấp (điều, tiêu) sang trồng cây ăn quả đặc sản hoặc nông nghiệp kết hợp du lịch sinh thái miệt vườn.
- Thủy lợi và quản lý nước: Xây dựng thêm hồ chứa, đập dâng và mạng lưới kênh mương (hiện 9 công trình đầu mối mới chỉ tưới được 1.082 ha); lập quy hoạch khai thác bền vững tầng nước ngầm, tránh tình trạng suy thoái nguồn nước ngầm trong mùa khô.
- Kỹ thuật và liên kết sản xuất: Đẩy mạnh các lớp tập huấn kỹ thuật thâm canh, ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm, kiểm soát lượng phân bón hóa học và thuốc BVTV để giữ vững chất lượng môi trường đất.
Đóng góp của khóa luận:
Đây là công trình nghiên cứu hệ thống đầu tiên về đánh giá đa tiêu chí các loại hình sử dụng đất nông nghiệp tại thành phố Long Khánh ngay sau thời điểm địa phương chính thức chuyển đổi từ thị xã lên thành phố (năm 2019), cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng cụ thể về hiệu quả kinh tế, khả năng giải quyết việc làm và mức độ an toàn môi trường của từng loại cây trồng.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát sơ cấp còn hạn chế về quy mô mẫu: đề tài mới thực hiện điều tra 40 hộ nông dân tại 2 đơn vị hành chính (xã Bảo Quang và phường Xuân Lập) trên tổng số 15 xã, phường của thành phố Long Khánh.
- Việc đánh giá hiệu quả môi trường chưa thực hiện được các phân tích lý hóa chuyên sâu đối với mẫu đất, mẫu nước mặt và nước ngầm trong phòng thí nghiệm; tiêu chí môi trường chủ yếu dựa trên số liệu định tính và điều tra mức độ sử dụng phân bón, thuốc BVTV từ lời khai của nông hộ so với định mức khuyến cáo.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng quy mô điều tra sang các xã, phường có diện tích nông nghiệp lớn khác như Hàng Gòn, Bình Lộc, Suối Tre và Bảo Vinh.
- Bổ sung quan trắc thực địa và phân tích dư lượng hóa chất bảo vệ thực vật, kim loại nặng trong đất và nguồn nước ngầm để có đánh giá môi trường dài hạn.
- Phân tích sâu hơn chuỗi giá trị và thị trường tiêu thụ của các loại trái cây chủ lực phục vụ định hướng xuất khẩu.
Giá trị tham khảo
Tài liệu có giá trị tham khảo thiết thực cho:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Quản lý đất đai, Quản lý tài nguyên và môi trường, Khoa học môi trường và Nông học khi thực hiện các khóa luận tốt nghiệp, đồ án môn học liên quan đến phương pháp đánh giá đất đai theo tiêu chuẩn FAO và tính toán các chỉ số kinh tế - xã hội - môi trường cấp huyện/thành phố.
- Cán bộ quản lý tại Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Kinh tế thành phố Long Khánh và các địa phương tương đồng ở vùng Đông Nam Bộ trong công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm và định hướng chuyển dịch cơ cấu cây trồng thích ứng với đô thị hóa.
- Phần đáng tham khảo nhất là Chương 2 (hệ thống chỉ tiêu và thang điểm phân cấp đa tiêu chí) và Chương 3 (chuỗi số liệu hiện trạng, bảng tính hiệu quả kinh tế - xã hội của cây sầu riêng, măng cụt, tiêu, điều).
Câu hỏi thường gặp
Diện tích đất nông nghiệp thành phố Long Khánh biến động như thế nào trong giai đoạn 2015 – 2019?
Trong giai đoạn 2015 – 2019, diện tích đất nông nghiệp của Long Khánh giảm 85,7 ha (từ 16.288,6 ha xuống 16.202,9 ha). Loại đất biến động giảm mạnh nhất là đất trồng cây lâu năm, giảm 81,9 ha (từ 14.343,5 ha xuống 14.261,6 ha) do phải chuyển dịch mục đích sang đất phi nông nghiệp để phát triển hạ tầng và nhà ở đô thị. Đất trồng cây hàng năm khác giảm 12 ha, đất lúa giảm 1,9 ha, trong khi đất nông nghiệp khác tăng 10,1 ha; đất lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản giữ nguyên diện tích.
Nhóm đất nào chiếm ưu thế tuyệt đối tại thành phố Long Khánh và đặc tính nông học của nó là gì?
Đất đỏ trên đá bazan (Ferrasols) là nhóm đất chiếm tỷ lệ lớn nhất với 11.488,13 ha (chiếm 59,91% tổng diện tích tự nhiên thành phố), phân bố tập trung ở phía Tây và Tây Nam. Nhóm đất này có tầng hữu hiệu dày, độ phì nhiêu cao vượt trội so với các nhóm đất khác, rất thích hợp để phát triển các loại cây ăn quả đặc sản (sầu riêng, chôm chôm, măng cụt) và cây công nghiệp lâu năm (cà phê, cao su).
Loại cây trồng nào mang lại giá trị sản xuất và giá trị ngày công lao động cao nhất trong khảo sát?
Cây sầu riêng mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất tại cả 2 địa bàn điều tra với GTSX đạt từ 480 – 500 triệu đồng/ha/năm, đồng thời tạo ra giá trị ngày công lao động cao nhất đạt 525.000 đồng/công với mức sử dụng 640 công lao động/ha.
Vì sao cây măng cụt đạt điểm tối đa trong đánh giá hiệu quả môi trường?
Cây măng cụt đạt điểm tuyệt đối (6/6 điểm) ở cả xã Bảo Quang và phường Xuân Lập vì tại thời điểm điều tra, lượng phân bón và thuốc BVTV mà người dân sử dụng trong quá trình canh tác đều ở mức thấp hơn định mức khuyến cáo kỹ thuật, ít gây nguy cơ tồn dư hóa chất độc hại vào đất và nguồn nước ngầm.
Đặc điểm nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp tại Long Khánh có những thuận lợi và khó khăn gì?
Về thuận lợi, thành phố có nguồn nước ngầm rất phong phú với 53% diện tích thuộc vùng nước ngầm giàu. Về khó khăn, hệ thống suối tự nhiên ngắn, nông và thường cạn kiệt trong mùa khô; toàn thành phố chỉ có 9 công trình thủy lợi đầu mối với 14,47 km kênh mương kiên cố hóa, mới chỉ đáp ứng tưới cho khoảng 1.082 ha, buộc phần lớn hộ nông dân phải tự khoan giếng để khai thác nước ngầm phục vụ tưới tiêu.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Trần Đăng Khoa đã hoàn thành việc đánh giá thực trạng và hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp tại thành phố Long Khánh giai đoạn 2015 – 2019 thông qua phân tích số liệu thứ cấp kết hợp khảo sát thực địa 40 nông hộ. Kết quả khẳng định nhóm cây ăn quả lâu năm, đặc biệt là sầu riêng và măng cụt canh tác trên đất đỏ bazan, mang lại hiệu quả vượt trội về kinh tế, giá trị ngày công lao động và an toàn môi trường so với cây công nghiệp già cỗi và cây lương thực ngắn ngày. Các giải pháp quy hoạch vùng chuyên canh, đầu tư hoàn thiện hạ tầng thủy lợi và kiểm soát khai thác nước ngầm được đề xuất là cơ sở thực tiễn giúp địa phương quản lý hiệu quả quỹ đất nông nghiệp trong quá trình đô thị hóa.