CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đất nông nghiệp, tác động của việc tập trung ruộng đất và các chủ trương liên quan đến tập trung ruộng đất 1. Khái niệm về đất nông nghiệp Đã có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về đất đai xuất hiện với nhiều khái niệm khác nhau, đứng trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau. Luật đất đai năm 1993 và sửa đổi bổ sung năm 2003 của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng kinh tế văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng.
Trải qua nhiều thế hệ, nhân dân ta tốn bao công sức, xương máu tạo lập, bảo vệ được vốn đất đai như hiện nay”. Phân loại đất nông nghiệp Theo luật đất đai năm 2003, quy định về phân loại đất nông nghiệp như sau: Nhóm đất nông nghiệp bao gồm các loại đất sau: a) Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác; b) Đất trồng cây lâu năm; c) Đất rừng sản xuất; d) Đất rừng phòng hộ; đ) Đất rừng đặc dụng; e) Đất nuôi trồng thủy sản; g) Đất làm muối; h) Đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính Phủ; 1. Vai trò của đất nông nghiệp Đất nông nghiệp thường được coi là ruộng đất, là đất đai được sử dụng vào trong các ngành trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản và phục vụ cho n 4 mục đích thí nghiệm phục vụ sản xuất nông nghiệp.Trên thực tế người ta thường đưa đất có khả năng nông nghiệp tức diện tích chưa được sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp mà không cần đầu tư cải tạo lớn, đất sử dụng vào nông nghiệp của mỗi nước mỗi khu vực phụ thuộc vào các thuộc tính tương đối ổn định của sinh quyển bên trên, bên trong và bên dưới nó. Trong sản xuất nông nghiệp, ruộng đất có vai trò hết sức quan trọng.
Bởi vì nó là nguồn lực, là cơ sở tự nhiên để tạo ra các sản phẩm nông nghiệp. Đất đai tham gia hầu hết vào các quá trình sản xuất của xã hội, nhưng tuỳ thuộc vào từng ngành cụ thể mà vai trò của đất đai có sự khác nhau. Trong công nghiệp, thương mại, giao thông đất đai là cơ sở, nền móng để trên đó xây dựng nhà cửa, cửa hàng, mạng lưới giao thông, thì ngược lại trong nông nghiệp ruộng đất tham gia với tư cách là yếu tố tích cực của sản xuất, là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được [5]. Ruộng đất là sản phẩm của tự nhiên, có trước lao động, nó xuất hiện và tồn tại ngoài ý muốn của con người vì thế ruộng đất là tài sản của quốc gia.
Trong nông nghiệp, ruộng đất vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động. Ruộng đất là đối tượng lao động khi con người sử dụng công cụ lao động tác động vào đất làm cho đất thay đổi hình dạng. Ruộng đất là tư liệu lao động, khi con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đất thông qua thuộc tính lý học, hoá học, sinh học của đất. Sự kết hợp giữa đối tượng lao động và tư liệu lao động đã làm cho ruộng đất trở thành tư liệu sản xuất trong nông nghiệp.
Không những vậy nó còn là tư liệu sản xuất chủ yếu, tư liệu sản xuất đặc biệt, tư liệu sản xuất không thể thay thế được. Như vậy, đất đai là thành phần quan trọng của môi trường sống, là địa bàn nơi dân cư sinh sống, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội. Đối với cây trồng đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nơi cung cấp các chất dinh dưỡng. Vì vậy năng suất cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào đất đai, sử dụng đầy đủ và hiệu quả sẽ làm tăng thu nhập, ổn định kinh tế chính trị xã hội.
Một số vấn đề về tập trung ruộng đất. Khi nghiên cứu về “tích luỹ tư bản”, một khái niệm trong lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin cho rằng: tích luỹ tư bản là đầu tư tăng thêm vào tư bản đã có, làm cho tổng số tư bản tăng lên. Quá trình làm cho quy mô tư bản tăng lên được thực hiện bằng hai phương thức tích tụ tư bản và tập trung tư bản. “Tích tụ tư bản là làm cho quy mô tư bản xã hội tăng lên nhờ có tích luỹ tư bản cá biệt”.
“Tập trung tư bản là hợp nhất một số tư bản cá biệt đã có thành một tư bản lớn hơn, thông qua việc các nhà tư bản thôn tính nhau hay liên doanh, liên kết với nhau” [1]. Hai phương thức này đều làm tăng quy mô tư bản, chúng có liên quan chặt chẽ với nhau, tạo điều kiện và thúc đẩy nhau. Như vậy, tập trung đất đai trong nông nghiệp là phương thức làm tăng quy mô diện tích của thửa đất và chủ thể sử dụng đất thông qua các hoạt động dẫn tới tập trung ruộng đất như: chuyển đổi, chuyển nhượng, thuê đất, thuê lại đất, thừa kế, thế chấp. Hai là, con đường sát nhập ruộng đất của các chủ sở hữu nhỏ, cá biệt để tạo ra quy mô lớn hơn.
Con đường này được thực hiện thông qua biện pháp tước đoạt hoặc chuyển nhượng mua bán ruộng đất. Con đường này diễn ra mạnh mẽ ở các nước tư bản. Việc tập trung ruộng đất vào tay chủ sở hữu mới tạo ra kết quả hai mặt là: Một mặt làm cho một bộ phận nông dân trở thành không có ruộng đất, buộc họ phải đi làm thuê hoặc rời quê hương tìm kế sinh nhai. Mặt khác, tạo cho chủ đất có điều kiện áp dụng tiến bộ KHKT đầu tư thâm canh tăng năng suất cây trồng, chuyển một bộ phận lao động nông nghiệp sang các kinh tế ngành khác, mà trước hết là công nghiệp.
n 6 Mặt khác, trong luật đất đai của nước ta đã và đang tạo ra hành lang pháp lý cho quá trình tập trung đất đai trong sản xuất nông nghiệp. Đó chính là việc xác định chế độ sử dụng đất: Chủ thể sử dụng đất: là những tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất để sử dụng. - Khách thể của quyền sử dụng đất: là một vùng nhất định mà Nhà nước giao cho các chủ thể sử dụng đất. - Chuyển đổi quyền sử dụng đất: là việc ''đổi đất lấy đất'' giữa các chủ thể sử dụng đất được Nhà nước giao đất để sử dụng nhằm mục đích chủ yếu là tổ chức lại sản xuất cho phù hợp, khắc phục tình trạng đất đai manh mún - Cho thuê đất: là một dạng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thời hạn, bên thuê đất phải trả cho bên cho thuê đất một khoản tiền nhất định để được quyền sử dụng.
- Thế chấp quyền sử dụng đất: là hoạt động trong quan hệ tín dụng, từ đó các chủ thể sử dụng đất thế chấp tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất thuê lại tổ chức tín dụng để vay vốn sản xuất kinh doanh theo quy định của pháp luật. - Cho thuê lại đất: là một dạng của chuyển nhượng lại quyền sử dụng đất khi người đi thuê cho người thuê lại. Tác động của tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp Tập trung ruộng đất trong sản xuất nông nghiệp phát huy được tính tự chủ của đơn vị kinh tế hộ nông dân trong việc ra các quyết định trong việc sản xuất nông nghiệp. Đó chính là sự tăng quy mô sản xuất, đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng các thành tựu KHKT để làm tăng giá trị sử dụng đất, thâm canh tăng vụ để nâng cao hiệu quả sự đất, tăng năng suất.
đã làm thay đổi cách nghĩ, cách làm, tập quán trước đây của người nông dân quen canh tác trên thửa đất nhỏ, chần chừ, do dự, ỷ lại không muốn đầu tư thâm canh. Khi n 7 có ô thửa ruộng lớn, thì nếp nghĩ của họ thay đổi cho phù hợp với tiến trình của công nghiệp hoá nông nghiệp. Hộ nông dân có vốn sẽ đầu tư cơ giới hoá các khâu trong sản xuất, góp phần giải phòng sức lao động [10]. Tập trung ruộng đất là điều kiện tốt cho việc phân bố lại lực lượng lao động trong nông nghiệp và nông thôn theo hướng tăng tỷ lệ lao động trong công nghiệp ngành nghề, dịch vụ nông thôn và giảm tỷ lệ lao động nông nghiệp thuần tuý.
Đồng thời còn là điều kiện tốt cho việc phát triển và hiện đại hoá ngành nghề; thủ công - mỹ nghệ, công nghiệp trong nông thôn. Củng cố, phát huy ngành nghề truyền thống, phát triển ngành nghề mới. Thực tế hiện nay cho thấy, một mâu thuẫn lớn đang đặt ra đối với nền nông nghiệp nước ta là có nhiều sản phẩm có khối lượng hàng hóa lớn nhưng lại được sản xuất ở nông hộ có quy mô nhỏ hoặc rất nhỏ nên chất lượng thấp, người sản xuất trực tiếp không nắm bắt được thông tin thị trường nên giá rẻ, kém sức cạnh tranh trên thị trường. Mâu thuẫn này chỉ có thể giải quyết thỏa đáng thông qua con đường tập trung ruộng đất.
Các chủ trương chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước liên quan đến tập trung ruộng đất Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị, tháng 11/1999 đã xác định “về tích tụ ruộng đất, việc chuyển nhượng quyền sử dụng, tích tụ và tập trung ruộng đất là hiện tượng sẽ diễn ra trong trong quá trình phát triển nông nghiệp lên sản xuất hàng hoá lớn. Việc tích tụ và tập trung ruộng đất phải được kiểm soát, quản lý chặt chẽ của Nhà nước”. - Đại hội lần thứ VII- 6/1991 đã xác định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý và giao cho nông dân quyền sử dụng lâu dài''. - Hội nghị Trung ương 2 khoá VII tháng 3/1992: “Quyết định việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất n 8 phải được pháp luật quy định cụ thể theo hướng khuyến khích nông dân an tâm đầu tư kinh doanh nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tạo điều kiện từng bước tích tụ ruộng đất trong giới hạn hợp lý để phát triển sản xuất hàng hoá, đi đôi với mở rộng phân công lao động và phân bố lao động gắn với quá trình.
Quy định rõ các điều kiện cho phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ngăn chặn tình trạng người sống bằng nghề nông không còn ruộng đất, người mua quyền sử dụng ruộng đất không phải để sản xuất mà là để buôn bán ruộng đất, phát canh thu tô.