MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đất đai là nguồ n tài nguyên vô cùng quý giá , là điều kiện tồn tại và phát triển của con ngƣời và các sinh vật khác trên trái đất. Theo luâ ̣t Đất đai 1993 có ghi “Đất đai là nguồ n tài nguyên vô cùng quý giá, là tƣ liệu sản xuất đặc biệt , là thành phần quan tro ̣ng đă ̣c biê ̣t của môi trƣờng số ng , là địa bàn phân bố các khu dân cƣ , xây dƣ̣ng cơ sở kinh tế , an ninh quố c phòng”. Xã hội ngày càng phát triển đất đai ngày càng có vai trò quan tro ̣ng , bấ t kì một ngành sản xuấ t nào thì đấ t đai luôn là tƣ liê ̣u sản xuất đặc biệt và không thể thay thế đƣợc.
Đối với nƣớc ta, một nƣớc nông nghiê ̣p thì vị trí của đất đai lại càng quan trọng và ý nghĩa hơn. Ngày nay, xã hội phát triển, dân số tăng nhanh kéo theo những đòi hỏi ngày càng tăng về lƣơng thực và thực phẩm, chỗ ở cũng nhƣ các nhu cầu về văn hóa, xã hội. Con ngƣời đã tìm mọi cách để khai thác đất đai nhằm thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng đó. Các hoạt động ấy đã làm cho diện tích đất nông nghiệp vốn có hạn về diện tích ngày càng bị thu hẹp, đồng thời làm giảm độ màu mỡ và giảm tính bền vững trong sử dụng đất.
Do vậy, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả, hợp lý theo quan điểm sinh thái và phát triển bền vững đang trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu đang đƣợc các nhà khoa học trên thế giới quan tâm. Đối với một nƣớc có nền kinh tế nông nghiệp là chủ yếu nhƣ ở Việt Nam, nghiên cứu, đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp càng trở nên cần thiết hơn bao giờ hết. Xã Sơn Điện là xã nghèo đặc biệt khó khăn, thuộc vùng miền núi cao năm ở phía tây của huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh hóa, xã có đƣờng biên giới giáp với nƣớc CHDC nhân dân Lào; cách trung tâm huyện 27 km, cách Thành phố Thanh hóa 182 km về phía tây .Tổng diện tích tự nhiên của xã là : 9448,79 ha , bao gồm 11 bản làng. Trong những năm qua Đảng bộ và nhân dân các dân tộc xã Sơn Điện đã phát huy truyền thống quê hƣơng, những tiềm năng lợi thế của địa phƣơng, nỗ lực phấn đấu, 2 tích cực, thi đua lao động sản xuất, tạo sự chuyển biến rõ rệt trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng.
Tuy nhiên việc sử dụng đất của xã trong những năm qua cho thấy còn nhiều hạn chế: chƣa khoanh định đƣợc diện tích đất trồng lúa cần bảo vệ, đối với đất lâm nghiệp chƣa thực hiện nghiêm ngặt các quy định về bảo vệ rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hƣớng sản xuất hàng hóa còn chậm, phát triển nuôi trồng thủy sản và các hoạt động dịch vụ, du lịch trên địa bàn chƣa tƣơng xứng với tiềm năng, lợi thế của địa phƣơng. Bên cạnh đó diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do phải chuyển mục đích sang các loại đất khác, việc bù đắp lại diện tích đất nông nghiệp bị mất là vô cùng khó khăn. Vì vậy, việc nghiên cứu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nhiệp, đảm bảo an ninh lƣơng thực và giữ gìn đƣợc bản sắc của địa phƣơng là một yêu cầu hết sức quan trọng và cần thiết trong thời gian tới. Xuất phát từ thực tế đó, dƣới sự hƣớng dẫn của GS.
Nguyễn Thế Đặng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Sơn Điện, huyện Quan sơn, tỉnh Thanh Hóa ”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp, từ đó lựa chọn loại hình sử dụng đất đạt hiệu quả cao phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Sơn Điện, huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên, – kinh tế xã hội tác động đến sản xuất nông nghiệp của xã.
- Đánh giá hiện trạng và xác định các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của xã. - Lựa chọn loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp cho xã - Đề xuất loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp và giải pháp phát triển phù hợp cho sản xuất nông nghiệp tại xã Sơn Điện huyện Quan Sơn – tỉnh Thanh hóa. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái niệm về đất, đất nông nghiệp và đất sản xuất nông nghiệp 2.
Khái niệm về đất * Khái niệm chung Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ lục địa mà bên dƣới nó là đá và khoáng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển. Đất là lớp mặt tƣơi xốp của lục địa có khả nằng sản sinh ra sản phẩm của cây trồng. Đất là lớp phủ thổ nhƣỡng là thổ quyển, là một vật thể tự nhiên, mà nguôn gốc của thể tự nhiên đó là do hợp điểm của 4 thể tự nhiên khác của hành tinh là thạch quyển, khí quyển, thủy quyển và sinh quyển. Sự tác động qua lại của bốn quyển trên và thổ quyển có tính thƣờng xuyên và cơ bản.
Theo nguôn gốc phát sinh tác giả Đôkutraiep coi đất là một vật thể tự nhiên đƣợc hình thành do sự tác động tổng hợp của 5 yếu tố: Khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian. Đất xem nhƣ một thể sống nó luôn vận động và phát triển. - Theo Các Mác, “đất là tƣ liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, là điều kiện không thể thiếu đƣợc của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài ngƣời kế tiếp nhau” (Các Mác, 1949) [7]. - Các nhà kinh tế, thổ nhƣỡng và quy hoạch của Việt Nam lại cho rằng “đất đai là phần trên mặt vỏ Trái Đất mà ở đó cây cối có thể mọc đƣợc ”.
Nhƣ vậy đã có rất nhiều định nghĩa và khái niệm khác nhau về đất nhƣng khái niệm chung nhất có thể hiểu là: Đất là một vật thể tự nhiên mà từ nó đã cung cấp các sản phẩm thực vật để nuôi sống động vật và con ngƣời. Sự phát triển của loài ngƣời gắn liền với sự phát triển của đất (Nguyễn Ngọc Nông, Nông Thu Huyền, 2012) [8]. Khái niệm đất nông nghiệp 4 Đất nông nghiệp đƣợc định nghĩa là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng. Đất nông nghiệp bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Luật Đất đai, 2003) [6].
Khái niệm đất sản xuất nông nghiệp Đất sản xuất nông nghiệp là đất dùng cho các hoạt động sản xuất nông nghiệp nhƣ: đất trồng cây hàng năm (đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi và đất trồng cây hàng năm khác) và đất trồng cây lâu năm (đất trồng cây công nghiệp lâu năm, đất trồng cây ăn quả lâu năm, đất trồng cây lâu năm khác). Vai trò và ý nghĩa của đất đai đối với sản xuất nông nghiệp Đất đai là sản phẩm của thiên nhiên, có những tính chất đặc trƣng riêng khiến nó không giống bất kì một tƣ liệu sản xuất nào khác, đó là đất có độ phì, giới hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian và vĩnh cửu với thời gian nếu biết cách sử dụng hợp lý. Trong sản xuất nông lâm nghiệp đát đai đƣợc coi là tƣ liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế. Ngoài vai trò là cơ sở không gian, đất còn có hai chức năng đặc biệt quan trọng: + Là đối tƣợng chịu sự tác động trực tiếp của con ngƣời trong quá trình sản xuất: là nơi con ngƣời thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng vật nuôi để tạo ra sản phẩm.
+ Đất tham gia tích cực vào quá trình sản xuất, cung cấp cho cây trồng nƣớc, không khí và các chất dinh dƣỡng cần thiết cho cây trồng sinh trƣởng và phát triển. Nhƣ vậy, đất gần nhƣ trở thành một công cụ sản xuất. Năng suất và chất lƣợng sản phẩm phụ thuộc vào độ phì nhiêu của đất. Trong tất cả các tƣ liệu sản xuất dùng trong nông nghiệp chỉ có đất mới có chức năng này (Lƣơng Văn Hinh, Nguyễn Ngọc Nông, Nguyễn Đình Thi, 2003) [5].
Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới và Việt Nam 2. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên Thế giới Trong sản xuất nông lâm nghiệp thì đất đai là nhân tố quyết định, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Trên thế giới mặc dù nền sản xuất nông nghiệp của các nƣớc phát triển không giống nhau nhƣng tầm quan trọng của nó đối với đời sống con ngƣời thì quốc gia nào cũng thừa nhận. Hầu hết các nƣớc đều coi nông nghiệp là cơ sở, nền tảng của sự phát triển.
Tuy nhiên, khi dân số ngày một tăng nhanh thì nhu cầu lƣơng thực, thực phẩm là một sức ép rất lớn lên đất, nhất là đất nông nghiệp. Trong khi đó đất đai lại có hạn, đặc biệt quỹ đất nông nghiệp lại có xu hƣớng giảm do chuyển sang các mục đích phi nông nghiệp. Để đảm bảo an ninh lƣơng thực loài ngƣời phải tăng cƣờng các biện pháp khai thác, khai hoang đất đai phục vụ cho mục đích nông nghiệp. Vì vậy, đất đai là đối tƣợng bị khai thác triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ và tăng độ phì cho đất không đƣợc chú trọng dẫn tới hậu quả môi trƣờng sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hóa trên phạm vi toàn thế giới, gây ảnh hƣởng lớn đến năng suất, chất lƣợng nông sản.
Đất đai trên thế giới phân bố không đồng đều ở các châu lục.