Mở đầu. Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Phần 3: Đối tượng nội dung và phương pháp nghiên cứu. Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Phần 5: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Huyền Tụng. Kết luận và kiến nghị Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4 2. Cơ sở khoa học của các vấn đề nghiên cứu 2. Một số khái niệm có liên quan - Khái niệm đất: Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, không có đất thì con người và cây cối không thể tồn tại được.
Đất đai không những phụ thuộc vào hình thái kinh tế - xã hội, mà nó còn phụ thuộc vào quá trình lao động. Để thực hiện quá trình lao động cần phải có đầy đủ các yếu tố: Hoạt động hữu ích, đối tượng lao động, tư liệu lao động: Như vậy, trong quá trình lao động chỉ có thể bắt đầu và hoàn thiện được khi có con người cùng các điều kiện vật chất tác động lên tư liệu sản xuất. Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất vật chất. Đất đai có những đặc điểm chủ yếu sau: Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể thay thế được Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau.
Trong công nghiệp, giao thông,…đất đai là cơ sở làm nền móng, trên đó xây dựng nhà máy, công xưởng, hệ thống đường giao thông,.để con người điều khiển máy móc, các phương tiện vận tải hoạt động. Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Ruộng đất bị giới hạn về mặt diện tích, con người không thể tăng thêm theo ý muốn chủ quan nhưng sức sản xuất ruộng đất là chưa có giới hạn, nghĩa là con người có thể khai thác chiều sâu của ruộng đất nhằm thỏa mãn nhu cầu tăng lên của loài người về sản phẩm. Chính vì thế trong quá trình sử dụng phải biết quý trọng ruộng đất, sử dụng tiết kiệm, hạn chế việc chuyển đất nông nghiệp sang xây dựng căn bản, tìm mọi biện pháp để cải tạo và bồi dưỡng đất làm cho ruộng đất ngày càng màu mỡ hơn, sản xuất ra nhiều sản phẩm trên mỗi đơn vị diện tích với chi phí thấp nhất trên một đơn vị sản phẩm.
Đất đai có vị trí cố định. Đất đai gắn liền với vị trí địa lý, địa hình, cho nên mỗi vùng đều có một số diện tích đất cố định. Đất gắn chặt với các điều kiện tự nhiên, kinh tế của từng vùng, 5 chịu ảnh hưởng bởi khí hậu, thời tiết của vùng đó. Tùy vào điều kiện của từng vùng mà có phương thức sản xuất phù hợp.
Tính cố định của đất đai gắn liền với điều kiện kinh tế của từng vùng. Diện tích đất có hạn. Nhà kinh tế Max nói: “Đất là tư liệu sản xuất cơ bản và phổ biến quý báu nhất của sản xuất nông nghiệp, đó là điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ kế tiếp nhau”. Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá.
Đất là giá đỡ cho toàn bộ sự sống của con người và là tư liệu sản xuất chủ yếu của ngành nông nghiệp. Đặc điểm đất đai ảnh hưởng lớn đến quy mô, cơ cấu và phân phối của ngành nông nghiệp. Vai trò của đất đai càng lớn hơn khi dân số ngày càng đông, nhu cầu dùng đất làm nơi cư trú, làm tư liệu sản xuất,…ngày càng tăng và nông nghiệp phát triển, trở thành ngành kinh tế chủ đạo. Vì vậy phải nghiên cứu, tìm hiểu quy mô, đặc điểm đất đai để bố trí cơ cấu cây trồng thích hợp nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp, nâng cao đời sống nhân dân.
Đất đai là yếu tố quan trọng nhất trong các tư liệu sản xuất của hộ nông dân. Cuộc sống của họ gắn liền với ruộng đất. Giải quyết mối quan hệ giữa nông dân và đất đai là giải quyết vấn đề cơ bản về kinh tế nông hộ. Chính vì vậy luật đất đai năm 2003 của nước ta đã khẳng định: “ Đất là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, an ninh quốc phòng…” Như vậy, trong các điều kiện vật chất đất đai luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó hình thành trên quá trình lao động, quan trọng hơn đất đai còn là nơi diễn ra các hoạt động sản xuất và hoạt động sống của con người.
- Khái niệm đất nông nghiệp: Đất nông nghiệp là đất được sử dụng chủ yếu vào các ngành của sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản hoặc sử dụng để6 nghiên cứu thí điểm về nông nghiệp. Ngoài tên gọi đất nông nghiệp, đất sử dụng vào sản xuất nông nghiệp còn được gọi là ruộng đất. Đất trồng trọt là đất nông nghiệp được 6 sử dụng vào mục đích trồng trọt các loại cây trồng như cây lương thực, cây công nghiệp hàng năm, cây công nghiệp lâu năm,… - Khái niệm hiệu quả sử dụng đất: Quan niệm hiệu quả sử dụng hợp lý đất nông nghiệp: phải nhận biết rõ những nhân tố có lợi để khai thác phát huy, đồng thời nhận biết những yếu tố bất lợi để phòng tránh khắc phục. Sử dụng hiệu quả hợp lý đất trồng trọt tức là: Đưa hết số lượng đất nông nghiệp, lâm nghiệp của đất nước vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp.
Phân loại đất nông nghiệp Theo quy định của điều 13 luật đất đai 2003, nhóm đất nông nghiệp được phân thành các loại sau: - Đất trồng cây hàng năm (đất canh tác) là đất dùng trồng các loại cây ngắn ngày, có chu kỳ sinh trưởng không quá một năm. Đất trồng cây hàng năm bao gồm: + Đất 3 vụ là đất gieo trồng và thu hoạch 3 vụ/năm với các công thức 3vụ lúa, 2 vụ lúa+ 1 vụ màu,. + Đất 2 vụ có công thức luân canh như lúa –lúa, lúa – màu, màu –màu,… + Đất 1 vụ là đất trên đó chỉ trồng được một vụ lúa hay một vụ màu/năm. Ngoài ra đất trồng cây hàng năm còn được phân theo các tiêu thức khác và được chia thành các nhóm đất chuyên trồng lúa, đất chuyên trồng màu….
- Đất trồng cây lâu năm gồm đất dùng để trồng các loại cây có chu kỳ sinh trưởng kéo dài trong nhiều năm, trồng một lần nhưng thu hoạch trong nhiều năm. - Đất rừng sản xuất là diện tích đất được dùng để chuyên trồng các loại cây rừng với mục đích sản xuất. - Đất rừng phòng hộ là diện tích đất trồng rừng với mục đích phòng hộ. - Đất đặc dụng là diện tích đất được nhà nước quy hoạch đưa vào sử dụng với mục đích riêng.
- Đất nuôi trồng thủy sản là diện tích đất dùng để nuôi trồng thủy sản như: tôm, cua, cá,. - Đất làm muối là diện tích đất được dùng để phục vụ cho quá trình sản xuất muối. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc sử dụng đất Sử dụng đất đai là hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa mối quan hệ giữa người và đất, trong tổ hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác với môi trường. Căn cứ vào các thuộc tính tự nhiên của đất đai, với ý nghĩa là nhân tố sức sản xuất thì các nhiệm vụ và nội dung sử dụng đất đai được thể hiện qua các yêu cầu sau: - Sử dụng đất hợp lý về không gian, hình thành hiệu quả kinh tế không gian sử dụng đất.
- Phân phối hợp lý cơ cấu đất đai trên diện tích đất được sử dụng, đồng thời hình thành cơ cấu về lương thực, thực phẩm để sử dụng đất. - Quy mô sử dụng đất cần có sự tập trung thích hợp, hình thành quy mô kinh tế sử dụng đất. - Giữ mật độ sử dụng đất thích hợp hình thành việc sử dụng đất mang tính chất thâm canh, tăng vụ để thu sản phẩm nhiều và chất lượng cao trên phạm vi nhỏ”. - Thực hiện đánh giá đất đai theo số lượng, chất lượng làm cơ sở khoa học cho việc phân loại, bố trí quy hoạch, sử dụng đất đai theo hướng khai thác lợi thế của từng vùng.
- Đẩy mạnh thâm canh nông nghiệp, đồng thời tích cực mở rộng diện tích bằng khai hoang và tăng vụ. - Phải sử dụng một cách tiết kiệm quỹ đất nông nghiệp, đặc biệt là việc chuyển đất nông nghiệp sang mục đích sử dụng khác. - Thúc đẩy quá trình tập trung ruộng đất khắc phục tình trạng phân tán manh mún trong sử dụng đất. - Tăng cường quản lý Nhà nước đối với đất đai.
Ruộng đất là tài sản quốc gia, Nhà nước giao quyền sử dụng ổn định và lâu dài cho nông dân. Vì vậy, việc tăng cường quản lý Nhà nước đối với đất đai là rất cần thiết. Nội dung quản lý Nhà nước đối với đất đai bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất, xây dựng hệ thống các biện pháp sử dụng đất, xác lập các chính sách sử dụng đất…“Ở nước ta, trong quá trình CNH - HĐH, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ sang công nghiệp, dịch vụ nông nghiệp đã và đang gây áp lực ngày càng lớn đối với đất đai. Con người cần đổi mới tư duy và phải thể hiện bằng những hành động đúng đắn, để trả lại cho đất giá trị đích thực 8 vốn có của nó”.
Vì vậy, việc sử dụng đất đai hợp lý liên quan chặt chẽ tới hoạt động của từng ngành và từng lĩnh vực, quyết định đến sản xuất và sự sống của người dân cũng như vận mệnh quốc gia. Vai trò của đất nông nghiệp - Vai trò của đất nông nghiệp: + Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu của sản xuất nông nghiệp vì nó có vai trò quyết định tạo ra các loại nông sản phẩm. Nếu không có đất thì không thể tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp được thì cũng không thể có nông sản được. + Đất đai là sản phẩm của tự nhiên nó cũng là tài sản của quốc gia (thuộc sở hữu toàn dân), nó tham gia vào mọi quá trình sản xuất của xã hội và trở thành TLSX chung của mọi ngành.
Tùy từng ngành sản xuất khác nhau mà vai trò của đất cũng được biểu hiện khác nhau.