CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp 1. Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp. Theo báo cáo của World Bank, cho đến cuối thế kỷ XX vẫn còn 1/10 dân số thế giới thiếu ăn và bị nạn đói đe dọa , hàng năm mức sản xuất so với yêu cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 – 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có từ 6 – 7 triệu ha đất nông nghiệp bị loại bỏ do xói mòn [35].
Theo tài liệu của FAO, năm 1980 diện tích trồng trọt trên toàn thế giới còn khoảng gần 15 tỷ ha, chiếm khoảng 10% tổng diện tích tự nhiên trái đất, trong đó có khoảng 973 triệu ha là đất vùng đồi núi.200 triệu ha đất bị thoái hóa có tới 544 triệu ha đất canh tác mất khả năng sản xuất do sử dụng đất không hợp lý [8] Từ thế kỷ XVIII và nhất là thế kỷ XX, việc phát triển công nghiệp và khoa học kỹ thuật đã đem lại thành tựu kỳ diệu là thay đổi hẳn bộ mặt trái đất 5 và cuộc sống con người. Nhưng do chạy theo lợi nhuận tối đa cục bộ không có một chiến lược phát triển chung nên đã gây ra hậu quả tiêu cực: ô nhiễm môi trường và thoái hoá đất. Hàng năm gần 12 triệu ha rừng nhiệt đới bị tàn phá ở châu Mỹ La tinh và châu Á[12]. Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới năm 2013 dân số thế giới vào khoảng hơn 7 tỷ người thì lượng lương thực còn có thể đáp ứng được, tuy nhiên không đồng đều giữa các vùng[32].
Vì vậy, trong thời gian tới nông nghiệp sẽ phải gánh chịu sức ép của nhu cầu lương thực, thực phẩm ngày càng tăng của con người. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3 tỷ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỷ ha, còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn. Quy mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: Châu Mỹ 35 %, Châu Á 26 %, Châu Âu 13 %, Châu Phi 20 %, Châu Đại Dương 6 %. Bình quân diện tích đất nông nghiệp trên đầu người toàn thế giới là 12.
Theo báo cáo của UNDP năm 1995 ở khu vực Đông Nam Á bình quân diện tích đất trên đầu người của một số nước như sau: Indonesia 0,12 ha, Malaysia 0,27 ha, Philippin 0,13 ha, Thailand 0,42 ha, Việt Nam 0,1 ha[32]. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt công bố diện tích đất đai theo kết quả kiểm kê đất đai năm 2013 tổng diện tích tự nhiên của cả nước là 33.857 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp chỉ có 26.106 ha, chiếm 79% tổng diện tích tự nhiên; Theo kết quả cuộc tổng điều tra dân số tháng 11 năm 2013, nước ta có 90 triệu người, là nước đông dân thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 13 trên thế giới. So sánh với 10 nước khu vực Đông Nam Á, tổng diện tích tự nhiên của Việt Nam xếp thứ 2, bình quân diện tích đất tự nhiên trên đầu người của Việt Nam đứng vị trí thứ 9 trong khu vực[27]. 6 Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất nhằm thoả mãn nhu cầu cho xã hội về nông lâm sản đang trở thành một trong những mối quan tâm lớn nhất của người quản lý và sử dụng đất.
Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp Đất đai là nguồn tài nguyên có hạn, trong khi nhu cầu của con người về các sản phẩm lấy từ đất ngày càng tăng. Mặt khác, đất nông nghiệp ngày càng thu hẹp do bị trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, mục tiêu sử dụng đất nông lâm nghiệp ở nước ta là nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất nông lâm nghiệp trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai.
Do đó, đất nông nghiệp cần được sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”, mặt khác phải có các quan điểm đúng đắn theo xu hướng tiến bộ phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cụ thể làm cơ sở thực hiện, sử dụng có hiệu đất đai [19]. Từ khi biết sử dụng đất đai vào mục đích sinh tồn của mình, đất đai đã trở thành cơ sở cần thiết cho sự sống hiện tại cũng như cho tương lai phát triển của con người. Trước đây, khi dân số còn ít, việc khai thác đất đai để đáp ứng nhu cầu của con người là quá dễ dàng, con người chưa làm ảnh hưởng lớn đến tài nguyên đất. Nhưng đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu của con người về các sản phẩm được lấy từ đất ngày càng tăng.
Một vài thập kỷ trở lại đây, do sức ép từ sự gia tăng dân số, nhu cầu của quá trình đô thị hoá và phát triển các ngành kinh tế, đặc biệt là ở các nước đang phát triển đã gây áp lực rất lớn đối với đất đai, nhất là đất nông lâm nghiệp. Vì vậy, sử dụng đất nông lâm nghiệp ở nước ta cần hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, 7 thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. Sử dụng đất trong sản xuất nông lâm nghiệp dựa trên cơ sở cân nhắc những mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tận dụng được tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên đất đai [13]. Theo Fetry cho rằng sự phát triển bền vững trong nông nghiệp(theo nghĩa rộng gồm Trồng trọt, Chăn nuôi, Lâm nghiệp và nuôi trồng Thủy sản) chính là sự bảo tồn đất, nước, các nguồn động vật, thực vật không bị suy thoái môi trường, kỹ thuật thích hợp, sinh lợi kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội.
Sử dụng đất nông nghiệp bền vững dựa trên các quan điểm: - Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất. - Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất. - Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và ngăn chặn sự thoái hóa đất và nước. - Có hiệu quả lâu bền.
- Được xã hội chấp nhận[20]. Nếu sử dụng đất đai đảm bảo các nguyên tắc trên thì đất đai được bảo vệ cho phát triển nông nghiệp bền vững. Ở Việt Nam đã hình thành nền văn minh lúa nước hàng ngàn năm nay, có thể coi là một mô hình trồng trọt bền vững ở vùng đồng bằng, thích hợp với điều kiện tự nhiên ở nước ta. Trong những năm gần đây nhiều mô hình vườn – ao – chuồng (VAC), mô hình nông – lâm kết hợp trên đất đồi thực chất là những kinh nghiện truyền thống được đúc rút từ quá trình đấu tranh lâu dài, bền vững với thiên nhiên khắc nghiệt của con người để tồn tại và phát triển[14].
Một số vấn đề lý luận về hiệu quả sử dụng đất 1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất Có nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả. Khi nhận thức của con người còn hạn chế, người ta thường quan niệm kết quả chính là hiệu quả. Sau này, khi nhận thức của con người phát triển cao hơn, người ta thấy rõ sự khác nhau giữa hiệu quả và kết quả.
Nói một cách chung nhất thì hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu của công việc mang lại [22]. Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau. Trong sản xuất, hiệu quả có nghĩa là hiệu suất, là năng suất. Trong kinh doanh, hiệu quả là lãi suất, lợi nhuận.
Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng suất lao động được đánh giá bằng số lượng thời gian hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [28]. Hiện nay, đối với nền kinh tế nông nghiệp của chúng ta còn phổ biến là sản xuất nhỏ, phân tán, mục đích của sản xuất đa số còn mang tính tự cung tự cấp, nên chưa thể áp dụng được cho diện rộng. Mặt khác, nếu chỉ đánh giá về lợi nhuận mà không chú ý đánh giá về hiệu quả môi trường, về hiệu quả xã hội thì không đánh giá được hiệu quả đó sẽ được bền vững hay không? Vì vậy, việc xác định một cách đúng và đầy đủ khái niệm về hiệu quả phải đứng trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và luận điểm của lý thuyết hệ thống. Bản chất của hiệu quả chính là sự biểu hiện của trình độ tiết kiệm thời gian, trình độ sử dụng các nguồn lực, khi đó ta có thể coi hiệu quả được xác định trong mối quan hệ so sánh tối ưu giữa kết quả thu được và lượng chi phí đã bỏ ra trong các điều kiện giới hạn về nguồn lực[12].
Sử dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà 9 khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của cả nhà nông - những người trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất nông nghiệp [31]. Căn cứ vào nhu cầu thị trường, thực hiện đa dạng hoá cây trồng vật nuôi trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp dụng công nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao, là một trong những điều tiên quyết để phát triển nền nông nghiệp hiện nay. Ngày nay, mọi hoạt động sản xuất của con người đều hướng đến mục tiêu là kinh tế.