Chương 1. Cơ sở lý luận của đề tài. Chương này nêu Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước; một số khái niệm, định nghĩa liên quan đến đề tài; mô hình đánh giá chất lượng và vận dụng trong đánh giá chất lượng phục vụ của thư viện và đánh giá năng lực tự học của sinh viên; các yếu tố tác động đến việc tự học của sinh viên; - Chương 2. Phương pháp nghiên cứu, thiết kế bảng câu hỏi và tổ chức nghiên cứu.
Chương này nêu bối cảnh nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; mô tả quá trình nghiên cứu; - Chương 3. Kết quả nghiên cứu. Chương này nêu ết quả khảo sát thực trạng; đánh giá chung và đưa ra huyến nghị giải pháp nâng cao hiệu quả phục cụ của TTTV&TTS với việc hình thành năng lực tự học của sinh viên. CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nƣớc và ngoài nƣớc 1. Các công trình nghiên cứu về vai trò của phương pháp tự học: Việc đổi mới phương pháp học tập đã được các nước có nền giáo dục hiện đại áp dụng từ lâu, ở tất cả các cấp bậc học. Có thể ể đến như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ hay Australia… tự học được biết đến từ thời xa xưa hi giáo dục còn chưa được công nhận là một ngành hoa học. Ngày nay, các công trình nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu và đi đến h ng định về vai trò, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc tự học: Philip Candy (1991) đã liệt ê 12 biểu hiện của người có năng lực tự học, phương pháp học tập chứa những ỹ năng cần có của người học, do vậy ngoài phương pháp giảng dạy của giảng viên thì việc tự học có tác động mạnh đến phương pháp và ết quả học của người học.25] Tay lor, B (1995) hi nghiên cứu về vấn đề tự học của sinh viên đã xác định biểu hiện của năng lực tự học thông qua ba yếu tố: thái độ, tính cách, ỹ năng.
Taylor đã xác nhận người tự học là người có động cơ học tập và bền bỉ, có tính độc lập, ỉ luật, tự tin và biết định hướng mục tiêu, có ỹ năng hoạt động phù hợp. Thông qua mô hình trên tác giả đã phân tích ra có ba yếu tố cơ bản của người tự học, đó là thái độ, tính cách và ỹ năng. Có thể nhận thấy, sự phân định đó để nhằm xác định rõ ràng những biểu hiện tư duy của bản thân và hả năng hoạt động trong thực tế chứ hông đơn thuần chỉ đề cập đến hía cạnh tâm lí của người học.25] Mô hình này được mô tả cụ thể ở bảng 1 dưới đây: Bảng 1.1: Những biểu hiện về thái độ, tính cách, kỹ năng của người có năng lực tự học. Thái độ Tính cách Kỹ năng 1.
Có trách nhiệm với việc 1. Có động cơ học tập 1. Có ỹ năng thực hiện học của bản thân các hoạt động học tập 2. Dám đối mặt với những 2.
Chủ động thể hiện 2. Có ỹ năng quản lý thách thức ết quả học tập thời gian học tập 3. Mong muốn được thay đổi 3. Mong muốn được học 4.
Hoạt động có mục đích 7. Thích học 8. Kiên nhẫn Trong tác phẩm Tự học như thế nào (1973), N.Ruban in đã nêu ra các vấn đề về phương pháp tự học, ông còn nhấn mạnh Việc giáo dục động cơ đúng đ n là điều kiện cơ bản để bạn tích cực, chủ động trong tự học ; Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học. Các công trình nghiên cứu về vai trò của thư viện đối với việc học của sinh viên Trên thế giới, có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của thư viện đối với việc học của sinh viên.
Các công trình đều kh ng dịnh vai trò quan trọng của thư viện trong việc tự học. Báo cáo The role of libraries in lifelong learning , Britt Marie Häggström, 2004 kh ng định vai trò quan trọng của thư viện đối với việc học tập suốt đời, đồng thời cũng nhấn mạnh việc cần thiết phải thay đổi của các thư viện công cộng nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người đọc.23] Trong tác phẩm How to self educate yourself at library 30/3/2022, Jacob Hofman đã h ng định thư viện không chỉ là nơi lưu giữ bách khoa toàn thư mà còn là ho lưu trữ kiến thức và người quản lý tài nguyên, dữ liệu và thông tin có thể truy cập công hai mà người ta cần tự đào tạo theo các điều kiện của riêng mình; đồng thời đưa ra các giải pháp giúp tập trung hơn khi tự học tại thư viện. Đây s là những ý tưởng s giúp ích trong việc đưa ra giải pháp của đề tài nhằm nâng cao hiệu quả của thư viện trong việc tự học của sinh viên. Các công trình nghiên cứu về vai trò của tự học: Trong lịch sử phát triển của nền giáo dục Việt Nam, hoạt động tự học thực sự được phát động, nghiên cứu nghiêm túc và triển khai rộng rãi từ khi nền giáo dục cách mạng ra đời (1945).
Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người khởi xướng vừa là người nêu cao tấm gương sáng ngời về tinh thần và phương pháp tự học. Trong bài nói về công tác huấn luyện học tập tại Hội nghị huấn luyện toàn quốc lần thứ nhất tháng 5 năm 1950, Người kh ng định: Phải biết tự động học tập ; Học ở trường, học ở sách vở, học lẫn nhau và học nhân dân, không học nhân dân là một thiếu sót rất lớn. Bàn về việc học, Bác Hồ đã viết trong cuốn Sửa đổi lề lối làm việc : Cách học tập, phải lấy tự học làm cốt, phải biết tự động học tập. Như vậy, có thể thấy Người rất quan tâm đến việc tự học của mỗi cán bộ, mỗi cá nhân.44] Những năm sáu mươi của thế kỷ XX cũng đã xuất hiện nhiều quan điểm, tư tưởng tiến bộ rất gần gũi với mô hình tự học, như: Học tích cực, chủ động, sáng tạo, tự học, tự rèn luyện; biến quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục; biến quá trình dạy học thành quá trình tự học.
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng nhấn mạnh: Trong nhà trường điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn. mà là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề. Những năm tám mươi, nhóm các nhà hoa học đã hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục về hệ đào tạo Đại học sư phạm vừa học – vừa làm, do GS.Nguyễn Cảnh Toàn làm chủ nhiệm đề tài. Nhóm nghiên cứu của GS.
Nguyễn Cảnh Toàn (2002) cũng đã đưa ra phương pháp dạy học hiện đại phù hợp với thực tiễn nước ta hiện nay là dạy – tự học, được ghi lại trong cuốn sách Dạy - Tự học của giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn.19] Nguyễn Thu Hường ( 2005), Đại học sư phạm Hà Nội, với đề tài Tìm hiểu tính tích cực trong học tập của sinh viên đối với môn học , đề tài đề cập đến tính tích cực của người học nảy sinh trong quá trình học tập, nhưng nó lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố hác nhau, nó phụ thuộc vào các yếu tố sau: 1. Môi trường. Với 7 nhân tố trên thì mỗi nhân tố s chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố và có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình lâu dài. Do vậy, việc tích cực hoá người học cần phải trải qua một quá trình lâu dài và toàn diện hi phối hợp hoạt động giữa gia đình, nhà trường và xã hội.20] Vấn đề đánh giá năng lực tự học, tác giả Phạm Thị Hồng Vinh viết về vấn đề Hệ thống tiêu chuẩn và tiêu chí đánh giá năng lực tự học theo tiếp cận năng lực thực hiện và quy trình tổ chức hoạt động tự học cho sinh viên sư phạm trên tạp chí Giáo dục số 287 năm 2012.33] Ở Việt Nam, với định hướng giáo dục phát triển năng lực thì vấn đề năng lực cũng được nhiều người quan tâm và nghiên cứu.
Ch ng hạn như, các hội thảo về chương trình giáo dục phổ thông mới trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể của Bộ Giáo dục và Đào tạo h ng định: Năng lực là sự huy động tổng hợp các iến thức, ĩ năng và các thuộc tính cá nhân hác như hứng thú, niềm tin, ý chí. để thực hiện một loại công việc trong một bối cảnh nhất định. Tác giả Trần Khánh Đức (2013) trong Nghiên cứu nhu cầu và xây dựng mô hình đào tạo theo năng lực trong lĩnh vực giáo dục đã nêu rõ: năng lực là hả năng tiếp nhận và vận dụng tổng hợp, có hiệu quả mọi tiềm năng của con người (tri thức, ĩ năng, thái độ, thể lực, niềm tin…) để thực hiện công việc hoặc đối phó với một tình huống, trạng thái nào đó trong cuộc sống và lao động nghề nghiệp .45] Nhìn chung, vấn đề tự học đã được đề cập, nghiên cứu từ lâu trong lịch sử giáo dục. Hoạt động tự học của người học đã được quan tâm nghiên cứu sâu s c.
Việc tự học là điều rất cần thiết không phải chỉ ở mỗi cá nhân mà còn liên quan đến chiến lược phát triển chung của đất nước. Các nghiên cứu về vai trò của thư viện trường đại học Thư viện là nơi lưu trữ thông tin, tài liệu tham hảo, giáo trình, các tư liệu điện tử cập nhật nhất… và sinh viên đến để tra cứu, tìm iếm tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu. Thư viện với môi trường học tập thuận lợi, tài liệu phong phú, công tác tra cứu, mượn/ trả tài liệu thuận lợi và thời gian phục vụ được nới rộng, thái độ và trình độ thủ thư ngày càng một tốt hơn… s góp phần thay đổi lề lối học tập trước đây của sinh viên, ết hợp tốt với phương pháp dạy mới, đổi mới hình thức thi… chất lượng đào tạo s được nâng lên một bước, phát huy hiệu quả, phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục đại học và yêu cầu thực tiễn phát triển inh tế xã hội ở nước ta, hội nhập các nước trong hu vực và thế giới. Ngày nay hoạt động của các cơ quan thông tin và thư viện đang dần có những chuyển biến rõ rệt để đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu thông tin ngày càng gia tăng về số lượng và chất lượng của người dùng tin.
Công tác phục vụ người dùng tin là một vấn đề rất được quan tâm.