LỜI MỞ ĐẦU 1. Sự cần thiết của đề tài Việc gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) đã mang đến cho Việt Nam rất nhiều cơ hội nhưng bên cạnh đó cũng mang lại không ít thách thức. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay và cụ thể trong lĩnh vực ngân hàng, một trong những lĩnh vực khá nhạy cảm đối với nền kinh tế thì những thách thức này lại càng lớn hơn. Thách thức thứ nhất, các tổ chức kinh tế đua nhau thành lập ngân hàng mà ngành nghề kinh doanh của tổ chức thành lập hoàn toàn trái ngược làm cho số lượng ngân hàng nội địa tăng nhanh, nhưng năng lực cạnh tranh của các ngân hàng chưa cao, quy mô vốn còn thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới, công tác quản lý điều hành còn yếu, ngoại trừ một vài ngân hàng lớn, còn lại hầu hết các ngân hàng chưa phát triển đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ mà chỉ tập trung vào sản phẩm dịch vụ truyền thống là cho vay và thanh toán mà sản phẩm truyền thống sẽ không còn thu được lợi nhuận cao như trước đây nữa, hơn thế nữa Chính phủ quy định mức vốn pháp định ngày càng khắt khe đối với các ngân hàng thương mại, cũng như tỷ lệ an toàn vốn.
Với điều kiện này thì các ngân hàng nhỏ sẽ rất khó khăn trong việc huy động vốn vào thời điểm như hiện nay. Thách thức thứ hai, theo tiến trình hội nhập WTO mà Việt Nam đã ký kết, đến nay thì không có sự phân biệt giữa các tổ chức tín dụng trong nước và các tổ chức tín dụng nước ngoài trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng, điều này có nghĩa là các chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phép mở rộng mạng lưới, trở thành các ngân hàng bán lẻ với công nghệ hiện đại, năng lực tài chính dồi dào, sản phẩm và dịch vụ phong phú, đa dạng, được đi sâu vào thị trường Việt Nam và mở rộng đối tượng khách hàng. Như vậy trong tương lai gần các ngân hàng trong nước không những phải cạnh tranh với nhau mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam. Thách thức thứ ba là các tổ chức kinh tế nước ngoài đã tham gia góp vốn mua cổ phần của các ngân hàng nội địa dưới danh nghĩa hợp tác chiến lược nhằm thâm nhập thị trường tài chính một cách nhanh chóng nhưng hiện nay tỷ lệ góp vốn còn ở mức khống chế, trong tương lai khi Việt Nam thực hiện cam kết mở cửa nhà nước sẽ không còn khống chế tỷ lệ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài vào ngân hàng nội địa nữa.
Lúc đó, nếu không đủ năng lực cạnh tranh các ngân hàng nội địa có thể bị các tổ chức nước ngoài “thôn tính”. Chính vì những thách thức trên mà các ngân hàng trong nước ngay từ bây giờ phải tìm cách tăng vốn, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường tiềm lực tài chính và khả năng cạnh tranh của mình. Để làm được điều này một cách nhanh chóng không có con đường nào khác hơn là các ngân hàng nội địa thực hiện hoạt động sáp nhập, mua lại theo định hướng phát triển thành tập đoàn tài chính ngân hàng, có nghĩa là đối tượng để ngân hàng sáp nhập, mua lại không phải là tùy tiện mà phải phù hợp và có định hướng thì mới có thể tận dụng những lợi thế của nhau, hợp tác để cùng nhau phát triển. Đối với các ngân hàng mạnh, có uy tín, thương hiệu, việc liên kết, hợp nhất để tạo ra một thương hiệu mới sẽ là yếu tố cộng hưởng cho sự phát triển chung của các ngân hàng hợp nhất.
Thực tế, hầu hết các tập đoàn Tài chính ngân hàng lớn mạnh trên thế giới như Citigroup, JP Morgan Chase, Standard Chartered Bank… đều có quá trình hình thành và phát triển tập đoàn gắn với quá trình sáp nhập và mua lại. Hiện tại, Việt Nam đã có khuôn khổ pháp lý cơ bản cho hoạt động mua bán sáp nhập NHTM (Thông tư số 04/2010/TT-NHNN ngày 11/02/2010 của Ngân hàng Nhà nước). Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng có chủ trương khuyến khích các tổ chức tín dụng tự nguyện tìm hiểu để mua lại, sáp nhập, hợp nhất, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan. Vì vậy, với đề tài “Đánh giá hiệu quả ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam sau M&A” tác giả mong muốn nghiên cứu sâu hơn về tác động của M&A đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam sau hợp nhất, để đưa ra những gợi ý chính sách tham khảo cho các nhà quản lý điều hành cũng như các cơ quan hữu quan trong thúc đẩy hoạt động M&A đạt được hiệu quả cao nhất.
Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là nghiên cứu hiệu quả sau sáp nhập của NHTMCP Việt Nam mà cụ thể là tại NHTMCP Sài Gòn Hà Nội. Từ các nghiên cứu về hiệu quả sau hợp nhất trong ngành ngân hàng của một số nước trên thế giới làm cơ sở lý luận tiền đề cũng như cung cấp phương pháp để tác giả nghiên cứu hiệu quả sau sáp nhập ngân hàng tại Việt Nam để từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách đối với các cơ quan quản lý, Ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thành viên tham gia vào thương vụ M&A góp phần giúp cho thị trường tài chính Việt Nam ngày càng phát triển hơn. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là hoạt động sáp nhập, hợp nhất và mua lại của ngân hàng thương mại Việt Nam qua trường hợp sáp nhập ngân hàng TMCP Nhà Hà Nội vào ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội. Phương pháp nghiên cứu Để đánh giá hiệu quả sau hợp nhất của Ngân hàng TMCP Sài Gòn Hà Nội, tác giả sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu DEA (Data Envelopment Analysis), phân tích tỷ số tài chính và hồi quy Tobit.
Các điểm hiệu quả của mô hình DEA sẽ được sử dụng làm biến phụ thuộc cho mô hình hồi quy. Ý nghĩa của đề tài Áp dụng phương pháp phi tham số DEA kết hợp với phân tích tỷ số tài chính và hồi quy Tobit, tác giả đánh giá hiệu quả sau hợp nhất của ngân hàng SHB. Từ các kết quả nghiên tác giả đề xuất các gợi ý chính sách cũng như các bài học kinh nghiệm cho ngành tài chính ngân hàng Việt Nam để các nhà quản lý ngân hàng cũng như những nhà tạo lập chính sách tham khảo trong quá trình thúc đẩy hoạt động M&A và hướng hoạt động M&A trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam theo một xu thế phát triển tất yếu. Mặt khác, đề tài cũng cung cấp một phương pháp để phân tích đánh giá hiệu quả của các tổ chức tài chính sau hợp nhất nói riêng hay của các doanh nghiệp sau sáp nhập nói chung trong các nghiên cứu sau này.
Ngoài ra, tác giả cũng nêu ra một số lưu ý trong tiến trình thúc đẩy hoạt động M&A cho các nhà quản lý điều hành tại các ngân hàng cũng như những nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước tham khảo nhằm đưa ra những chiến lược và giải pháp riêng cho từng ngân hàng khi tiến hành M&A để đạt được hiệu quả cao nhất. Bố cục của luận văn Luận văn gồm năm phần chính: Phần 1: Giới thiệu tóm tắt nghiên cứu. Phần 2: - Tổng quan các kết quả nghiên cứu về hiệu quả M&A ngân hàng trên thế giới và tác động của nó, - Các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả của hoạt động M&A ngân hàng trên thế giới. Phần 3: Phương pháp nghiên cứu, định nghĩa các biến, mô tả dữ liệu thu thập và phương pháp xử lý số liệu.
Phần 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Phần 5: Một số gợi ý chính sách. Trang 1 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ HIỆU QUẢ CỦA HOẠT ĐỘNG SÁP NHẬP VÀ MUA LẠI NGÂN HÀNG 1.1 Giới thiệu tóm tắt Sự hội nhập kinh tế toàn cầu đã tạo ra một nền kinh tế thị trường trong một “thế giới phẳng”. Sự cạnh tranh cao giữa các ngân hàng là động lực để ngân hàng vươn lên, phát triển cả về chiều sâu và chiều rộng.
Và đương nhiên khi đó sẽ có ngân hàng tồn tại, phát triển, cũng như sẽ có ngân hàng phá sản, bị thôn tính. Và điều này tất yếu sẽ hình thành nhu cầu cần mua - bán, thâu tóm - sáp nhập, liên doanh - liên kết giữa các ngân hàng để lớn mạnh hơn, phát triển hơn và hỗ trợ cho nhau tốt hơn. Tuy nhiên, mua bán ngân hàng không đơn giản như mua bán một sản phẩm hàng hóa thông thường. Một thương vụ M&A thành công hay không phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nhu cầu, giá cả, giải quyết các vấn đề phát sinh hậu M&A… Vì vậy, với đề tài “Đánh giá hiệu quả ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam sau M&A” tác giả đã trình bày các nghiên cứu thực nghiệm về hiệu quả của hoạt động M&A ngân hàng tại một số nước trên thế giới như: Singapore, Malaysia và Đài Loan nhằm làm tiền đề, cung cấp cơ sở lý luận cho nghiên cứu hiệu quả M&A tại Việt Nam mà cụ thể là tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Hà Nội.
Tác giả đã chọn tình huống nghiên cứu tại Singapore để áp dụng nghiên cứu hiệu quả M&A tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Sài Gòn Hà Nội vì đây là nước ở khu vực Châu Á có ngành công nghiệp ngân hàng phát triển đã trải qua giai đoạn M&A khá sớm và gần gũi với nền kinh tế Việt Nam. Mặt khác, phương pháp nghiên cứu cũng phù hợp với các trường hợp nghiên cứu hiệu quả M&A riêng lẻ. Kết quả phân tích các tỉ số tài chính cho thấy việc hợp nhất đã không đem lại hiệu quả cao hơn cho ngân hàng SHB sau hợp nhất do ROE và ROA không những thấp Trang 2 hơn mà còn âm đáng kể so với trước hợp nhất. Thứ 2, chi phí nhân lực sau hợp nhất cũng không giảm.
Theo lý thuyết thì sự hợp nhất sẽ làm giảm nhân sự ở các phòng ban hành chính nhưng bù lại làm tăng nhân sự ở các phòng giao dịch với khách hàng, hàm ý rằng một dịch vụ khách hàng tốt hơn. Thước đo phân tích rủi ro là tỉ lệ nợ xấu trên tổng tài sản cho thấy rằng hợp nhất đã làm tăng rủi ro cho ngân hàng SHB. Dù kết quả về hiệu quả tổng thể trái ngược nhau trong cả hai mô hình DEA nhưng hiệu quả kỹ thuật của SHB sau hợp nhất đã cải thiện hoàn toàn.