ĐẶT VẤN ĐỀ Nƣớc là tài nguyên vô cùng quý giá, là một chất rất quan trọng trong nhiều ngành khoa học và trong đời sống. Hiện nay, có khoảng 70% diện tích bề mặt Trái đất đƣợc nƣớc che phủ, song chỉ có khoảng 0,3% tổng lƣợng nƣớc trên Trái đất nằm trong nguồn có thể khai thác dùng làm nƣớc uống. Nƣớc không chỉ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của con ngƣời mà còn là nguồn nhiên liệu đƣợc sử dụng trong công nghiệp (máy hơi nƣớc, nhà máy thủy điện…) và nông nghiệp (tƣới tiêu…). Việt Nam có những nỗ lực trong nhiều năm qua để cải thiện tình trạng nƣớc sạch vốn là vấn đề mang tính toàn cầu.
Nƣớc và vệ sinh là một trong những mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà Chính phủ đặt nhiều kỳ vọng, bởi lĩnh vực này đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. Năm 2011, chỉ có 37% dân số nông thôn sử dụng nƣớc sạch - tức đạt tiêu chuẩn chất lƣợng do Bộ Y tế quy định và cần nỗ lực nhiều hơn để đáp ứng các mục tiêu cấp nƣớc nông thôn cho năm 2020. Nhiều báo cáo lƣu ý, tại một số vùng, tài nguyên nƣớc bị ảnh hƣởng bởi nhiễm mặn và ô nhiễm hóa học, trong khi cơ sở hạ tầng bị ảnh hƣởng bởi thời tiết khắc nghiệt và lũ lụt. Vào mùa khô, mực nƣớc ngầm giảm và chất ô nhiễm tăng.
Theo thống kê của Liên Hợp Quốc, hiện có 1,8 tỷ ngƣời trên thế giới sử dụng nguồn nƣớc uống có chứa vi khuẩn gây ra các bệnh nhƣ tiêu chảy, kiết lị, thƣơng hàn. Điều đó cũng khiến cho 842.000 ngƣời chết mỗi năm do ảnh hƣởng của các căn bệnh này. Nƣớc bẩn và điều kiện vệ sinh kém có thể dẫn đến những căn bệnh nghiêm trọng ở trẻ nhỏ. WHO cho biết, bệnh truyền nhiễm do tình trạng thiếu nƣớc và môi trƣờng sống mất vệ sinh khiến nhiều trẻ sơ sinh tử vong.
Theo báo cáo "Nƣớc uống, vệ sinh và vệ sinh trong trƣờng học" của UNICEF và WHO năm 2018 thực hiện tại trên 92 quốc gia (không có Việt Nam), trên toàn cầu có 69% trƣờng học có dịch vụ nƣớc uống cơ bản. Nhìn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 chung, gần 600 triệu trẻ em thiếu dịch vụ nƣớc uống cơ bản tại trƣờng. Chƣa đến một nửa số trƣờng học ở châu Đại Dƣơng và hai phần ba trƣờng học ở Trung và Nam Á có dịch vụ nƣớc uống cơ bản. Các dịch vụ nƣớc uống cơ bản là nƣớc từ nguồn đƣợc cải thiện, tức nƣớc đƣờng ống, lỗ khoan hoặc ống dẫn nƣớc, giếng đào đƣợc bảo vệ, suối đƣợc bảo vệ, nƣớc đóng gói hoặc giao và nƣớc có sẵn tại trƣờng tại thời điểm khảo sát.
Kết quả điều tra gần đây cho thấy nƣớc uống sinh hoạt của ngƣời dân trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh chủ yếu là nƣớc mặt, nƣớc ngầm. Thành phố Cẩm Phả có diện tích tự nhiên là 486,45 km2, địa hình phức tạp, chủ yếu đồi núi trải dài 70 km, gồm 16 đơn vị hành chính với số dân gần 200. Trên địa bàn thành phố có trên 1.300 doanh nghiệp, 65 trƣờng học, ngoài ra còn nhiều cơ quan, đơn vị đóng trên địa bàn. Nhu cầu cấp nƣớc sinh hoạt khu vực nội thành là 147,31 lít/ngƣời/ngày/đêm, tỷ lệ dân số khu vực nội thị đƣợc cấp nƣớc sạch đạt 100%.
Nguồn cung cấp nƣớc sạch sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn chủ yếu nhận từ Nhà máy nƣớc Diễn Vọng và một phần khai thác nội bộ từ 05 giếng khoan do Xí nghiệp nƣớc Cẩm Phả thực hiện. Nhà máy nƣớc Diễn Vọng lấy nguồn nƣớc thô từ Hồ đập Cao Vân đƣa về khu xử lý sản xuất và cung ứng sản phẩm nƣớc sạch theo quy chuẩn của Bộ y tế, cung cấp nƣớc sạch cho khách hàng đóng trên địa bàn thành phố Cẩm Phả. Nhà máy đã thực hiện việc lấy mẫu nƣớc thô và nƣớc thành phần đầu ra tại nhà máy để xét nghiệm hàng ngày, thông qua đó đánh giá chất lƣợng nƣớc và có biện pháp xử lý khi phát hiện nguồn nƣớc không đảm bảo các chỉ số an toàn [7]. Để đảm bảo nguồn nƣớc sạch theo đúng quy chuẩn phục vụ nhu cầu cấp nƣớc cho ngƣời dân trƣớc khi đƣa vào sử dụng cần phải có các công nghệ xử lý nguồn nƣớc.
Chính vì vậy, tôi thực hiện đề tài “Đánh giá hiệu quả môi trường của nhà máy nước Diễn Vọng, thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh”. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm cơ sở khoa học đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý về mặt môi trƣờng khu vực nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan chung về nƣớc sinh hoạt tại Việt Nam Việt Nam đƣợc đánh giá là quốc gia thiếu nƣớc, với tổng lƣợng nƣớc mặt trung bình hằng năm khoảng 830 tỷ m3, theo chỉ tiêu đánh giá của Hội TNN quốc tế, quốc gia đƣợc coi là thiếu nƣớc nếu chƣa có đến 4.
Việt Nam khoảng 3.370 m3/ngƣời/năm từ nguồn nƣớc nội sinh, phân bố chủ yếu ở các lƣu vực sông: Cửu Long, Hồng, Thái Bình, Ðồng Nai, chiếm gần 80% tổng lƣợng nƣớc mặt của cả nƣớc. Trong khi đó, hơn 60% số lƣợng nƣớc đƣợc sản sinh từ nƣớc ngoài, chỉ có khoảng 310 tỷ m3 đƣợc sản sinh trên lãnh thổ Việt Nam và trữ lƣợng nƣớc dƣới đất khoảng 63 tỷ m3/năm. Theo Cục trƣởng Quản lý TNN, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng (TN và MT) Hoàng Văn Bảy: Lƣợng nƣớc sinh ra ở phần lãnh thổ Việt Nam chỉ chiếm khoảng 37%, còn lại là xuất phát từ bên ngoài lãnh thổ, trong khi đó nhu cầu về nguồn nƣớc cho sinh hoạt và sản xuất ngày càng tăng. Ðiều đó đang đặt ra những thách thức to lớn về an ninh nguồn nƣớc.
Trƣớc thực trạng nêu trên, thời gian qua, công tác điều tra TNN mặt, nƣớc ngầm ở Việt Nam đƣợc chú trọng, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ TN và MT phối hợp các bộ, ngành liên quan và các địa phƣơng tập trung điều tra, đánh giá, tìm kiếm nguồn nƣớc phục vụ chống hạn cho vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng khan hiếm nƣớc, phòng, chống hạn hán, xâm nhập mặn và ứng phó với biến đổi khí hậu. Triển khai Quy hoạch tổng thể điều tra cơ bản TNN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt. Bộ TN và MT cũng đã trình Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt sáu quy trình trên lƣu vực các sông: Hồng, Mã, Sê San, Ba, Trà Khúc và Kôn - Hà Thanh. Tập trung kiểm soát, quản lý chặt chẽ quy trình vận hành, bảo đảm việc điều tiết khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, thông minh các nguồn nƣớc phục vụ đa mục tiêu, đáp ứng cho sản xuất, giảm lũ và phát điện.
Mặt khác kiên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 quyết xử lý các hành vi xả thải chƣa đạt quy chuẩn vào môi trƣờng, vi phạm trong việc vận hành giảm lũ cho hạ du, điều tiết nƣớc trong mùa cạn, bảo đảm duy trì dòng chảy tối thiểu của các hồ. Bên cạnh đó, nhằm đẩy mạnh kinh tế hóa trong quản lý TNN, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả TNN, nâng cao mức đóng góp cho nền kinh tế, Bộ TN và MT đã phê duyệt tiền cấp quyền khai thác TNN, với số tiền hơn bảy nghìn tỷ đồng. Các địa phƣơng đã phê duyệt cho gần 750 đơn vị, với số tiền phải thu là hơn 106 tỷ đồng. Việt Nam cũng đang tập trung đầu tƣ hệ thống quan trắc chất lƣợng nguồn nƣớc, hệ thống giám sát các hoạt động xả nƣớc thải vào nguồn nƣớc, hệ thống giám sát quy trình vận hành các hồ chứa thủy lợi, thủy điện trên các lƣu vực sông để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn và giảm thiểu ô nhiễm nguồn nƣớc cho các dòng sông… Hƣởng ứng Ngày Nƣớc thế giới năm 2019, có chủ đề "Nƣớc cho tất cả - Không để ai bị bỏ lại phía sau", Bộ TN và MT, UBND các tỉnh, thành phố đã tổ chức nhiều hoạt động thiết thực nhằm nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò, sự cần thiết của TNN đối với cuộc sống của con ngƣời; bảo vệ nguồn TNN, khai thác, sử dụng TNN một cách tiết kiệm, hiệu quả.
Tuy nhiên, để tăng cƣờng quản lý, sử dụng bền vững TNN, bảo đảm an ninh nguồn nƣớc ở nƣớc ta, Bộ TN và MT tiếp tục tổ chức kiểm kê TNN quốc gia, đánh giá nhu cầu sử dụng nƣớc, lập quy hoạch TNN quốc gia và các lƣu vực sông, lƣu vực sông liên tỉnh. Ứng dụng hệ thống thông tin, công nghệ tự động trực tuyến trong quan trắc, giám sát TNN và các hoạt động khai thác, sử dụng nƣớc, giám sát việc vận hành của các hồ chứa theo quy trình liên hồ và việc xả dòng chảy tối thiểu. Trong thời gian tới, Bộ TN và MT cũng sẽ tăng cƣờng triển khai xây dựng, hoàn thiện các trạm quan trắc tài nguyên nƣớc; giám sát việc khai thác, sử dụng tài nguyên nƣớc, xả nƣớc thải; theo dõi, đánh giá, dự báo tình hình suy thoái, cạn kiệt, xâm nhập mặn nguồn nƣớc; thực hiện các giải pháp phòng, chống khô hạn, xâm nhập mặn, ứng phó với biến đổi khí hậu, nƣớc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 biển dâng, trƣớc mắt ƣu tiên những vùng bị ảnh hƣởng nặng. Tăng cƣờng khả năng trữ nƣớc thông qua các giải pháp phi công trình trong quản lý nguồn nƣớc dựa vào xu thế tự nhiên trên cơ sở dự báo dài hạn về khí hậu, thủy văn, nhất là vùng đồng bằng sông Cửu Long, duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
Ðồng thời, tiếp tục đôn đốc các địa phƣơng hoàn thành danh mục nguồn nƣớc và tổ chức cắm mốc hành lang bảo vệ nguồn nƣớc nhằm bảo đảm sự lƣu thông dòng chảy, khả năng thoát lũ, phòng chống sạt lở lòng bờ, bãi sông, hƣớng tới xanh hóa các dòng sông. Ðẩy nhanh tiến độ các chƣơng trình, dự án bảo đảm nƣớc sạch và vệ sinh cho mọi ngƣời, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biển, hải đảo, vùng khan hiếm nƣớc… 1. Các mô hình công nghệ xử lý nƣớc sinh hoạt tại Việt Nam Hiện nay, ở Việt nam có một số mô hình xử lý nƣớc cấp đang đƣợc áp dụng. Cụ thể: - Mô hình xử lý nƣớc cấp không bể lắng: Sơ đồ 1.
Qui trình xử lý nƣớc cấp tại Việt Nam LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Bộ thu nước đầu nguồn và rửa ngược tự động LAKOS: Nƣớc nguồn đi vào hệ thống qua lƣới lọc của bộ thu nƣớc. Giải pháp này giúp bảo vệ bơm hút đầu nguồn, tăng tuổi thọ bơm, tăng hiệu suất làm việc của bơm và bảo vệ nguồn nƣớc cấp của hệ thống.