Mở đầu Phần 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn. Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu. Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận. Phần 5: Các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất mía.
Kết luận và kiến nghị e 4 PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận về hộ nông dân 2.1 Khái niệm về hộ nông dân - Khái niệm về hộ nông dân Theo Ellis (1998) đã đưa ra khái niệm như sau: Hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ không hoàn chỉnh cao.[2] - Khái niệm về kinh tế nông hộ “Kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế nền tảng để phát triển sản xuất hàng hóa. Kiểu sản xuất kinh tế nông hộđòi hỏi một kiểu tổ chức kinh tế gắn bó người lao động với đối tượng sản xuất trong suốt quá trình sản xuất. kinh tế nông hộ là hình thức kinh tế lấy gia đình nông dân làm đơn vị sản xuất. Năm 1988” Bộ Chính trị ra nghị quyết NQ10 - 1988 công nhận kinh tế nông hộ là đơn vị sản xuất.[2] Kinh tế nông hộ thường bất lực trước những biến động của thị trường, khả năng hạn chế trong ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, là sự thiếu thốn về vốn liếng, tư liệu sản xuất.
Điều đó tất yếu đòi hỏi nông dân phải hợp tác lại tạo ra kinh tế hợp tác xã, thông qua đó kinh tế nông hộ hoạt động hòa nhập vào kinh tế xã hội (kinh tế thị trường). Đặc điểm kinh tế hộ nông dân Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng Với lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu đời và là hình thức tổ chức sản xuất có trình độ thấp nhất trong các loại hình tổ chức kinh doanh chủ yếu trong nông nghiệp, hộ nông dân đóng vai trò rất quan trọng. Hộ nông dân là đơn vị kinh tế cơ sở. Nước ta đang trong thời kỳ đổi mới với nhiều khó khăn và thử thách.
Với cơ cấu nền kinh tế nhiều thành phần, kinh tế hộ vẫn đóng vai trò quan trọng, vẫn là mục tiêu phát triển chính và chủ yếu trong phát triển nông nghiệp, nông thôn. Mặt khác, hộ sản xuất kinh doanh nước ta chủ yếu còn nhỏ lẻ, manh mún, sử dụng lao động gia đình là chính, trình độ sản xuất hạn chế. Do đó, sản xuất chủ yếu mang tính tự cấp, tự túc. Phần lớn sản phẩm làm ra là để tiêu dùng trong gia đình.
Khi sản xuất không đủ tiêu dùng, họ thường điều chỉnh nhu cầu, khi sản xuất dư thừa họ có thể đem sản phẩm dư thừa để trao đổi trên thị trường, nhưng đó không phải là mục đích sản xuất của họ. Vì vậy, hộ vừa là một đơn vị sản xuất, vừa là một đơn vị tiêu dùng. Sản xuất của hộ nông dân dựa trên công cụ sản xuất thủ công, trình độ canh tác lạc hậu, trình độ khai thác tự nhiên thấp Nông nghiệp là ngành sản xuất chính ở nông thôn. Vì hộ xuất kinh doanh nước ta chủ yếu còn nhỏ lẻ, manh mún nên công cụ sản xuất cũng ở mức độ thô sơ, thủ công.
Nước ta đi lên từ sau chiến tranh, đời sống người dân còn khổ cực, trình độ năng lực còn rất hạn chế. Trước đây, vì trình độ canh tác còn lạc hậu, các hộ chủ yếu sản xuất nhỏ để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng gia đình, ít mở rộng sản xuất, hầu như không áp dụng khoa học kỹ thuật. Bên cạnh đó, nông nghiệp là ngành mang tính thời vụ cao, phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, trong khi đó, khả năng khai thác tự nhiên của hộ rất e 6 thấp, chủ yếu phụ thuộc hoàn toàn vào nó, dẫn đến tình trạng có năm được mùa, có năm lại mất trắng, cuộc sống không ổn định. Hiện nay, trong thời kỳ nền kinh tế thị trường, kinh tế Việt Nam mở cửa hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới.
Hộ nông dân, với tư cách là những đơn vị kinh tế tự chủ, hộ đã từng bước thích ứng với cơ chế thị trường, áp dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ, kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện liên doanh, liên kết, khai thác có hiệu quả các nguồn lực để sản xuất nông sản đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Các hộ nông dân, ngoài hoạt động nông nghiệp còn tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp với các mức độ khác nhau Đối tượng sản xuất của hộ chủ yếu thuộc lĩnh vực nông nghiệp, hộ xuất kinh doanh trồng trọt các loại cây ăn quả, cây trồng lâu năm…, hộ xuất kinh doanh chăn nuôi, hay là hộ sản xuất kết hợp trồng trọt và chăn nuôi các loại cây trồng, vật nuôi khác nhau có tính hỗ trợ cho nhau. Thực tế hiện nay, có rất nhiều mô hình kết hợp trồng trọt, chăn nuôi đạt hiệu quả cao, thu về cho hộ nông dân hàng trăm triệu mỗi năm. Bên cạnh đó, nền kinh tế ngày càng phát triển, đòi hỏi kinh tế hộ phải phát triển hơn cả về chất và lượng, không chỉ đơn thuần hoạt động sản xuất nông nghiệp mà hộ còn tham gia hoạt động xuất kinh doanh ở các ngành nghề phi nông nghiệp khác vào lúc nông nhàn với quy mô lớn, nhỏ khác nhau để tận dụng triệt để nguồn nhân lực, tránh lãng phí tư liệu sản xuất, đồng thời đa dạng các khoản thu nhập, nâng cao đời sống người dân.
Hộ nông dân có sự gắn bó các thành viên về huyết thống, về quan hệ hôn nhân, có lịch sử và truyền thống lâu đời Với đặc điểm, hộ nông dân có sự gắn bó các thành viên về huyết thống, về quan hệ hôn nhân, có lịch sử và truyền thống lâu đời như vậy nên các thành viên trong nông hộ gắn bó với nhau trên các mặt quan hệ sở hữu, quan e 7 hệ quản lý, quan hệ phân phối. Do thống nhất về lợi ích nên sự gắn kết, tính tự nguyện, tự giác cao trong lao động. Trong mỗi nông hộ, bố mẹ vừa là chủ hộ, vừa là người tổ chức hoạt động sản xuất. Vì vậy, tổ chức sản xuất trong hộ nông dân có nhiều ưu việt và có tính đặc thù.
Sản xuất kinh doanh chịu nhiều rủi ro, nhất là rủi ro khách quan, tuy nhiên khả năng khắc phục lại hạn chế Hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp, là lĩnh vực mà chịu sự tác động trực tiếp của điều kiện thời tiết như mưa, gió, nắng hạn…là những nguyên nhân khách quan không thể thay đổi. Hiện nay, sự đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn đã chú trọng đến vấn đề này nhưng thực tế vẫn chưa triệt để, nông nghiệp, nông thôn vẫn phải gánh chịu những đợt mất mùa, mưa bão, hạn hán, những đợt dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi làm ảnh hưởng xấu đến quá trình SXKD của hộ dân. Về tính pháp lý và khả năng tài chính của hộ Đây là một đặc điểm đứng trên phương diện nghiên cứu hộ là một chủ thể kinh tế chịu sự tác động của các hoạt động tín dụng. Mọi thành viên trong hộ gia đình đều liên đới trách nhiệm trong quan hệ giao dịch tín dụng.
Về mặt thủ tục pháp lý trong giao dịch với ngân hàng, chỉ cần người đại diện hộ đứng tên giao dịch với ngân hàng trên cơ sở ủy quyền của các thành viên trong hộ. Tài sản của hộ bao gồm cả tài sản chung của các thành viên trong hộ và cả tài sản riêng của các thành viên góp vào sử dụng chung. Xét từ góc độ này thì năng lực tài chính của hộ bao gồm tài sản chung và tài sản riêng của các thành viên. Vốn tự có của hộ gia đình chủ yếu là khả năng lao động của hộ, tức là kinh nghiệm cùng khả năng tổ chức và trực tiếp tham gia lao động của các thành viên trong hộ gia đình.
e 8 Từ những đặc điểm trên ta thấy rằng kinh tế hộ là thành phần kinh tế khá linh động, là cơ sở ban đầu cho việc thực hiện các quy hoạch phát triển kinh tế nước ta.2 Cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế 2. Quan điểm về hiệu quả kinh tế Hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế. Quá trình tăng cường lợi dụng các nguồn lực sẵn có phục vụ cho lợi ích của con người, có nghĩa là nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế. Nâng cao hiệu quả kinh tế là một đòi hỏi khách quan của mọi nền sản xuất xã hội xuất phát từ những nhu cầu vật chất của con người ngày càng tăng.
Xuất phát từ góc độ nghiên cứu khác nhau, các nhà kinh tế đưa ra nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh tế. Hiệu quả theo quan điểm của Mác, đó là việc “tiết kiệm và phân phối một cách hợp lý thời gian lao động sống và lao động vật hoá giữa các ngành” và đó cũng chính là quy luật “tiết kiệm và tăng năng suất lao động hay tăng hiệu quả”. "Mác cũng cho rằng “nâng cao năng suất lao động vượt quá nhu cầu cá nhân của người lao động là cơ sở hết thảy mọi xã hội" Vận dụng quan điểm của Mác, các nhà kinh tế học Xô Viết cho rằng “hiệu quả là sự tăng trưởng kinh tế thông qua nhịp điệu tăng tổng sản phẩm xã hội hoặc thu nhập quốc dân với tốc độ cao nhằm đáp ứng yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa xã hội”. Khi bàn về khái niệm hiệu quả, cần phân biệt rõ ba khái niệm cơ bản về hiệu quả: Hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và hiệu quả kinh tế.
Hiệu quả kỹ thuật: là số lượng sản phẩm có thể đạt được trên chi phí đầu vào. Hiệu quả kỹ thuật được áp dụng phổ biến trong kinh tế vi mô để xem xét tình hình sử dụng nguồn nhân lực cụ thể, nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn e 9 lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả phân bổ các nguồn lực: là chỉ tiêu hiệu quả trong các yếu tố sản phẩm và giá đầu vào được tính để phản ánh giá trị sản phẩm thu thêm trên một đồng chi phí thêm về đầu vào hay nguồn lực.