CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm đánh giá - Đánh giá dự án là nhìn nhận và phân tích toàn bộ quá trình triển khai thực hiện dự án, các kết quả thực hiện cũng như hiệu quả thực tế đạt được của dự án trong mối quan hệ với nhiều yếu tố, so sánh với mục tiêu ban đầu. - Đánh giá là so sánh những gì đã thực hiện bằng nguồn lực của thôn bản và những hộ trợ từ bên ngoài với những gì thực sự đã đạt được. Các loại đánh giá * Đánh giá tiền khả thi/khả thi Đánh giá tiền khả thi là đánh tính khả thi của hoạt động hay dự án, để xem xét liệu dự án hay hoạt động có thể thực hiện được hay không trong từng điều kiện cụ thể nhất định.
Loại đánh giá này thường do tổ chức tài trợ thực hiện, những tổ chức này sẽ phân tích các khả năng thực hiện của dự án hay hoạt động để làm căn cứ duyệt hay không duyệt để đưa dự án vào thực hiện. * Đánh giá định kỳ: là đánh giá từng giai đoạn thực hiện, có thể là đánh giá toàn bộ các công việc trong một giai đoạn, nhưng cũng có thể đánh giá từng công việc ở từng giai đoạn nhất định. Nhìn chung đánh giá định kỳ thường áp dụng cho những dự án có thời gian thực hiện lâu dài. Tùy theo dự án mà người ta có thể định ra các khoảng thời gian để đánh giá định kỳ, có thể là 3 tháng, 6 tháng, hay 1 năm một lần.
Mục đích của đánh giá định kỳ để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu, những khó khăn, thuận lợi trong một thời kỳ nhất định để có thể thay đổi hay điều chỉnh các hoạt động cho phù hợp với những gì đã đề ra và cho những giai đoạn kế tiếp. Hiệu quả Hiệu quả là khái niệm chung để chỉ các kết quả hoạt động của các sự vật, hiện tượng bao gồm: hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường. Hiệu quả kinh tế (HQKT) * Một số lý luận chung về HQKT - HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh tế, chất lượng của các hoạt động này chính là quá trình khai thác hợp lý và khơi dậy tiềm năng sẵn có của con người để phục vụ cho lợi ích của con người. - Các nhà sản xuất và nhà quản lý kinh tế cần phải nâng cao chất lượng của các hoạt động kinh tế nhằm đạt được mục tiêu là với khối lượng tài nguyên nguồn lực nhất định tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa có giá trị lớn nhất.
Nói cách khác là ở một mức độ khối lượng và giá trị sản phẩm nhất định thì phải làm thế nào để chi phí sản xuất là thấp nhất. Như vậy, quá trình sản xuất là sự liên hệ mật thiết giữa các yếu tố nguồn lực đầu vào và khối lượng sản phẩm đầu ra, kết quả cuối cùng của mối liên hệ này là thể hiện tính hiệu quả trong sản xuất, với cách xem xét này, có nhiều ý kiến thống nhất với nhau về HQKT, có thể khái quát HQKT như sau: + HQKT được biểu hiện là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được với chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị của các yếu tố nguồn lực đầu vào. Mối tương quan này cần xét cả về tương đối và tuyệt đối, cũng như xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại lượng đó.
Một phương án đúng hay một giải pháp kinh tế kỹ thuật, HQKT cao là đạt được tương quan tối ưu giữa kết quả thu được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. + HQKT trước hết được xác định bởi sự so sánh tương đối (thương số) giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Với cách biểu hiện này đã chỉ rõ được mức độ hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực sản xuất khác nhau. Từ đó so sánh được HQKT của các quy mô sản xuất khác n 6 nhau, những nhược điểm của cách đánh giá này không thể hiện được quy mô của hiệu quả nói chung.
Như vậy, HQKT là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh mặt chất lượng của hoạt động sản xuất kinh doanh và đặc trưng của nền sản xuất xã hội, quan niệm về HQKT ở các hình thái kinh tế khác nhau sẽ không giống nhau. Tùy thuộc vào điều kiện kinh tế xã hội, mục đích và yêu cầu của một đất nước, một vùng, một ngành sản xuất cụ thể và được đánh giá theo những góc độ khác nhau. Hiệu quả xã hội (HQXH) HQXH của bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, của bất kỳ mô hình nào thì đó chính là khả năng tạo việc làm thường xuyên, tạo có hội để mọi người dân trong vùng đều có việc làm và từ đó tăng nguồn thu nhập, không ngừng nâng cao mức sống cả về vật chất và tinh thần trên cơ sở đó thực hiện công bằng dân chủ, công bằng xã hội. Hiệu quả môi trường (HQMT) HQMT trong sản xuất nông nghiệp phải đảm bảo cho môi trường sinh thái ngày càng được bảo vệ và cải thiện, phát triển nông nghiệp nông thôn theo hướng phát triển bền vững.
Có nghĩa là phát triển liên tục trên cơ sở khai thác hợp lý các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu hiện tại và bảo tồn chúng cho các thế hệ tương lai. HQMT còn thể hiện là mô hình không có tác động gây ô nhiễm môi trường vừa ít hoặc không sử dụng các loại thuốc kích thích cũng như các loại thuốc hóa học, thuốc bảo vệ thực vật vì đây là nguyên nhân chính gây nên sự ô nhiễm đối với môi trường sống hiện nay. Cơ sở lý thuyết về sản xuất chè 1. Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của sản xuất chè Cây chè có đặc điểm từ sản xuất đến chế biến đòi hỏi phải có kỹ thuật khá cao từ khâu trồng, chăm sóc, thu hoạch đến chế biến và bảo quản.
Vì thế để phát triển ngành chè hàng hóa đạt chất lượng cao cần phải quan tâm, chú trọng từ những khâu đầu tiên, áp dụng những chính sách đầu tư hợp lý, loại bỏ dần những phong tục tập quán trồng chè lạc hậu… Để tạo ra được những sản phẩm hàng hóa có sức cạnh tranh cao, thu hút khách hàng và các nhà đầu tư sản xuất trong và ngoài nước. Nếu coi cây chè là cây trồng mũi nhọn thì cần phải thực hiện theo hướng chuyên môn hóa để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chè góp phần tăng thu nhập cải thiện đời sống người dân trồng chè. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất chè a. Nhóm nhân tố về điều kiện tự nhiên + Điều kiện đất đai Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt đối với cây chè, nó là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm.
Muốn chè có chất lượng cao và có hương vị đặc biệt cần phải trồng chè ở độ cao nhất định. Đa số những nơi trồng chè trên thế giới cần có độ cao cách mặt biển từ 500 dến 800 m. Chè được trồng và phát triển chủ yếu ở vùng đất dốc, đồi núi, ở những vùng núi cao chè có chất lượng tốt hơn ở vùng 0 thấp. Độ dốc đất trồng chè không quá 30 , đất càng dốc thì xói mòn càng lớn, đất nghèo dinh dưỡng chè không sống được lâu.
Chè là loại cây thân gỗ dễ ăn sâu nên cần tầng đất dầy, tối thiểu 50 cm. Cây chè ưa các loại đất thịt và đất thịt pha cát có giữ độ ẩm tốt, thoát nước tốt. Độ sâu mực nước ngầm phải sâu hơn thì chè mới sinh trưởng và phát triển tốt được vì cây chè cần ẩm nhưng sợ úng. Độ n 8 chua của đất là chỉ tiêu quyết định đời sống cây chè, độ chua PH thích hợp nhất là từ 4,5 – 5,5.
Nếu độ chua PH dưới 3, lá chè xanh thẫm, có cây chết. Nếu độ chua trên 7,5, cây ít lá, vàng cằn [1]. Trồng chè ở các vùng đất trung tính hoặc kiềm cây chè chết dần. Ngoài ra thành phần dinh dưỡng cũng quyết định sự sinh trưởng và năng suất cây chè.
Để cây chè phát triển tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu: Đất tốt, giàu mùn, chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cho chè phát triển. + Điều kiện khí hậu Cây chè thích nghi với các điều kiện khí hậu khác nhau. Nhưng qua số liệu các nước trồng chè cho thấy, cây chè sinh trưởng ở những vùng có lượng mưa hàng năm từ 1000 - 4000 mm, phổ biến thích hợp nhất từ 1500 – 2000 mm. Độ ẩm không khí cần thiết từ 70 - 90%.
Độ ẩm đất từ 70 - 80%. Lượng mưa bình quân tháng trên 1000 mm chè mọc tốt, ở nước ta các vùng trồng chè có điều kiện thích hợp, chè thường được thu hoạch nhiều từ tháng 5 đến tháng 10 trong năm [1]. Nhiệt độ không khí ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây chè. Cây chè ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ không khí dưới 10oC hay trên 40oC.
Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng từ 22 – 28oC. Mùa đông cây chè tạm ngừng sinh trưởng, mùa xuân bắt đầu phát triển trở lại. Thời vụ thu hoạch chè dài, ngắn, sớm, muộn tuỳ thuộc chủ yếu vào điều kiện nhiệt độ. Tuy nhiên các giống chè khác nhau có mức độ chống chịu khác nhau [1].
Cây chè vốn là cây thích nghi sinh thái vùng cận nhiệt đới bóng râm, ẩm ướt. Lúc nhỏ cây cần ít ánh sáng, một đặc điểm cũng cần lưu ý là các giống chè lá nhỏ ưa sáng hơn các giống chè lá to. Nhóm nhân tố kinh tế kỹ thuật + Giống chè n 9 Là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm. Có thể nói giống là tiền đề năng suất, chất lượng chè thời kỳ dài 30- 40 năm thu hoạch, nên cần được hết sức coi trọng.
Giống chè là giống có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu được điều kiện sống khắc nghiệt và sâu bệnh. Nguyên liệu phù hợp chế biến các mặt hàng có hiệu quả kinh tế cao. Cùng với giống tốt trong sản xuất kinh doanh chè cần có một số cơ cấu giống hợp lý, việc chọn tạo giống chè là rất quan trọng trong công tác giống. Ở Việt Nam đã chọn, tạo được nhiều giống chè tốt bằng phương pháp chọn lọc cá thể như: PH1, TRI777, 1A, TH3.