Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết về hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại. 5 Chương 3: Phân tích thực trạng hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Chương 4: Vận dụng phương pháp bao dữ liệu DEA - Data Envelopment Analysis để nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
Chương 5: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu Phương pháp bao dữ liệu DEA là phương pháp được sử dụng phổ biến để nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng trên thế giới và tại Việt Nam nhiều năm qua. Đề tài sử dụng phương pháp bao dữ liệu với cùng một bộ dữ liệu để nghiên cứu hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại ở Việt Nam với ba cách tiếp cận khác nhau. Sử dụng những kết quả có được, đề tài chỉ ra nguyên nhân của việc hoạt động thiếu hiệu quả của các ngân hàng thương mại.
Đặc biệt phân tích tác động của hiệu quả quy mô để nhận xét về xu hướng sáp nhập của các ngân hàng trong khoảng thời gian gần đây. Đề tài cập nhật dữ liệu mới nhất – dữ liệu năm 2015 – để bổ sung đồng thời đánh giá lại kết quả của những nghiên cứu trước đây về vấn đề này. Đề tài góp phần bổ sung những kết quả thực tiễn về đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam khi phân tích bằng phương pháp bao dữ liệu. Kết quả của đề tài có thể được dùng để so sánh với những nghiên cứu cùng chủ đề với cùng phương pháp nhưng sử dụng cách tiếp cận khác, hay với những nghiên cứu sử dụng những phương pháp khác.
Bên cạnh đó, đề tài sẽ chỉ ra những khó khăn cũng như những vấn đề còn tồn tại để mở ra hướng mới cho những nghiên cứu tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Hiệu quả là khái niệm được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực.
Khi xét đến hiệu quả trong lĩnh vực kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng, có nhiều khái niệm được đưa ra với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Hiệu quả thường đi chung với năng suất. Trong tác phẩm “Bàn về tài sản của các quốc gia” Adam Smith được trích trong Lê Phan Thị Diệu Thảo và Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh (2013) cho rằng phân chia lao động sẽ làm tăng năng suất và kỹ năng của người lao động, và “hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa”. Năng suất của đơn vị sản xuất được đo lường bằng tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào.
Năng suất được tính toán dễ dàng nếu đơn vị sản xuất chỉ có một đầu vào để sản xuất một đầu ra. Nếu đơn vị sản xuất sử dụng nhiều đầu vào để sản xuất nhiều đầu ra, các đầu vào và đầu ra phải được tính toán sao cho năng suất vẫn thể hiện được sự ảnh hưởng của các đầu vào đối với các đầu ra. Năng suất của các đơn vị sản xuất khác nhau là do sự khác biệt về công nghệ sản xuất, hiệu quả của quá trình sản xuất và môi trường hoạt động của đơn vị đó. Trong khi đó, hiệu quả là sự so sánh giữa giá trị thực tế và giá trị tối ưu của đầu ra và đầu vào.
Cụ thể hơn, một đơn vị đạt hiệu quả khi đơn vị có thể tối đa hóa giá trị đầu ra với lượng đầu vào cho trước, hay tối thiểu hóa lượng đầu vào với điều kiện sản xuất cùng một mức sản lượng đầu ra hoặc cả hai. Hiệu quả mang tính kinh tế, nó được đo lường bằng cách so sánh giữa giá trị thực tế và giá trị tối ưu của chi phí, doanh thu, lợi nhuận hay bất cứ chỉ tiêu nào mà doanh nghiệp theo đuổi (Daraio và Simar, 2007). Theo Farrell (1957), một doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả là doanh nghiệp thành công trong việc sản xuất ra một lượng lớn nhất có thể số lượng sản phầm đầu ra từ các nguồn đầu vào. Do đó, hiệu quả chính là mối tương quan giữa lượng đầu ra thu 7 được từ việc kết hợp các yếu tố đầu vào.
Farrell cho rằng doanh nghiệp có thể tăng hiệu quả bằng cách tăng sản lượng đầu ra mà không sử dụng thêm sản lượng đầu vào. Coelli (2005) cho rằng có sự khác nhau giữa hiệu quả và năng suất của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp đạt hiệu quả khi doanh nghiệp đó tạo ra tối đa lượng đầu ra với cùng một lượng đầu vào cho trước. Hiệu quả này gọi là hiệu quả kỹ thuật.
Nhưng để đạt được năng suất tối đa, ngoài việc doanh nghiệp đạt hiệu quả kỹ thuật cần đạt được hiệu quả theo quy mô. Tuy nhiên, thay đổi quy mô không thể cho kết quả ngay lập tức mà cần có độ trễ, do đó, hiệu quả kỹ thuật có thể giống như năng suất trong ngắn hạn. Sự thể hiện hiệu quả trong ngắn hạn được gọi là hiệu quả kỹ thuật và sự thể hiện hiệu quả trong dài hạn được gọi là năng suất. Hiệu quả kỹ thuật sẽ được chia làm hai phần chính: hiệu quả kỹ thuật thuần túy và hiệu quả quy mô.
Nhiều tác giả cũng định nghĩa năng suất và hiệu quả giống nhau, và đều là tỷ lệ giữa đầu ra và đầu vào (Daraio và Simar, 2007). Trong các nghiên cứu về lĩnh vực ngân hàng, Hughes và Mester (2008) cho rằng hiệu quả của ngân hàng phụ thuộc vào quyền sở hữu, luật pháp và môi trường hoạt động (quy tắc kế toán, quy định của Chính phủ, và điều kiện thị trường…). Các yếu tố trên cùng với yếu tố chính trị khác nhau sẽ làm hiệu quả của các ngân hàng khác nhau. Hiệu quả được ước tính dựa trên giá cả các yếu tố đầu vào, số lượng các sản phẩm đầu ra, và yếu tố môi trường.
Hiệu quả kinh tế của một tổ chức tài chính phụ thuộc vào việc lựa chọn cách thức tiếp cận. Đề tài sử dụng quan điểm của Coelli (2005) cho các phần trình bày tiếp theo. Có hai cách tiếp cận để xác định hiệu quả của một ngân hàng – cách tiếp cận dựa trên các tỷ số tài chính và cách tiếp cận bằng cách xây dựng biên hiệu quả. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại – cách tiếp cận dựa trên các tỷ số tài chính Cách tiếp cận từ các tỷ số có thể được hiểu là cách đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại dựa trên các tỷ số được tính toán từ số liệu của báo cáo tài chính.
Trong ngành ngân hàng, nhiều nhà nghiên cứu đo lường hiệu quả chi phí bằng tỷ lệ giữa chi phí và thu nhập. Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ ngân hàng hoạt động càng hiệu quả. Tỷ lệ chi phí và thu nhập trung bình theo chuẩn quốc tế hiện nay là 0,6. Như vậy, những ngân hàng nào có tỷ lệ này thấp hơn 0,6 chứng tỏ ngân hàng hoạt động hiệu quả và ngược lại.
Bên cạnh đó, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thường được các nhà nghiên cứu đo lường bằng chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản ROA, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu ROE, tỷ lệ thanh khoản và tỷ lệ đo lường rủi ro tín dụng (Chen và Liao, 2009). Dựa vào việc phân tích các tỷ số tài chính, so sánh tỷ số tài chính của ngân hàng qua các năm cũng như so sánh tỷ số tài chính của ngân hàng này so với ngân hàng khác và với tỷ số trung bình chung của ngành ngân hàng, ta có thể đưa ra kết luận về hiệu quả hoạt động của các ngân hàng. Tuy nhiên, việc sử dụng các tỷ số để đánh giá hiệu quả ngân hàng có một số nhược điểm nhất định. Thứ nhất, các tỷ số tài chính này phải được so sánh với một chuẩn mực nhất định nhưng việc xây dựng chuẩn mực này rất khó thực hiện.
Thứ hai, các tỷ số tài chính được tính toán dựa trên số liệu của báo cáo tài chính, nhưng các nhóm tỷ số khác nhau thì lại đưa ra kết quả về hiệu quả khác nhau, ví dụ: ngân hàng có thể được đánh giá là hoạt động hiệu quả nếu sử dụng nhóm tỷ số về khả năng sinh lợi nhưng lại bị đánh giá không hiệu quả nếu sử dụng nhóm tỷ số về an toàn vốn (Chen và Liao, 2009). Thêm vào đó, các tỷ số tài chính không đánh giá được tác động của các quyết định về hoạt động quản lý và đầu tư tại thời điểm hiện tại khi các quyết định này có những ảnh hưởng nhất định trong tương lai. Ví dụ nếu một ngân hàng trì hoãn hoạt động tiếp thị và cắt giảm chi phí phát triển sản phẩm mới sẽ cho ra tỷ lệ tài chính tốt 9 tuy nhiên nó lại làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động trong tương lai (Sherman và Gold, 1984). Do đó, cần có một phương pháp đo lường có thể kết hợp tất cả dữ liệu đầu ra và đầu vào cùng với sự hỗ trợ của kinh tế lượng để đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại chính xác hơn.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại – cách tiếp cận bằng cách xây dựng biên hiệu quả Trong cách tiếp cận này, biên hiệu quả là tập hợp những ngân hàng hiệu quả nhất được xác định dựa vào nguồn số liệu thu thập được. Theo đó, hiệu quả hoạt động của một ngân hàng được xác định bằng tỷ lệ giữa khoảng cách của ngân hàng cần đánh giá so với biên hiệu quả. Farrell (1957) cho rằng hiệu quả tổng thể của một doanh nghiệp bao gồm hai thành phần là hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân phối. Trong đó, Farrell xác định hiệu quả kỹ thuật là khả năng doanh nghiệp có thể sản xuất được lượng đầu ra cao nhất từ một lượng đầu vào có sẵn.
Hiệu quả phân phối là khả năng doanh nghiệp lựa chọn tập hợp các nhân tố đầu vào với tỷ lệ tối ưu sao cho giá cả đạt được thấp nhất trong điều kiện giá cả đầu vào và công nghệ không thay đổi. Theo Coelli, một công ty có thể đạt hiệu quả kỹ thuật, nhưng có thể có quy mô quá nhỏ để tận dụng hiệu quả kinh tế theo quy mô hay công ty có quy mô quá lớn làm cho lợi nhuận giảm theo quy mô.