Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động ngân hàng thương mại và hoạt động ngân hàng thông qua mô hình CAMELS Chương 2: Thực trạng hiệu quả hoạt động của Ngân hàng TMCP Quân Đội thông qua mô hình CAMELS giai đoạn 2014-2016 Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quân Đội 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG THÔNG QUA MÔ HÌNH CAMELS 1. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của NHTM 1. Tổng quan về NHTM 1. Khái niệm NHTM Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện các nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Tại mọi thời điểm trong quá trình phát triển của mọi nền kinh tế, luôn luôn tồn tại những nguồn vốn nhàn rỗi không sử dụng đến, đồng thời tồn tại những nhu cầu cấp thiết về vốn với đa dạng mục đích sử dụng. Ngân hàng thương mại xuất hiện với những chức năng là nhận tiền gửi, cho vay và giao dịch thanh toán. Ngân hàng thương mại có 2 vai trò chính: Thứ nhất, các ngân hàng đã tạo điều kiện cho sự đi lên về sản xuất, lưu thông hàng hóa thông qua việc thúc đẩy hoạt động đầu tư, đáp ứng những nhu cầu cần thiết trong quá trình sản xuất kinh doanh. Thứ hai, là một trung gian tài chính, ngân hàng thương mại có vai trò như một công cụ giúp ngân hàng trung ương thực hiện các chính sách tiền tệ.
Ngân hàng thương mại có mối quan hệ sâu rộng đối với mọi chủ thể trong nền kinh tế, do đó Nhà nước có thể điều tiết nền kinh tế vĩ mô một cách hữu hiệu dựa trên chính phương thức hoạt động của ngân hàng. Chức năng của NHTM Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán. Với các hoạt động của mình ngân hàng có các chức năng sau đây: 6 Chức năng làm trung gian tín dụng Xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội, chức năng trung gian tín dụng của NHTM thể hiện ở việc là cầu nối giữa người có vốn dư thừa và người có nhu cầu về vốn. Thông qua việc huy động các khoản vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay của nó rồi đem cho vay đối với nền kinh tế mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn.
Chức năng trung gian thanh toán Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩ quan trọng đối với hoạt động kinh tế. Trước hết, khối lượng tiền mặt lưu thông giảm đồng thời tăng khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và bảo đảm thanh toán an toàn. Ngoài ra, thực hiện chức năng thanh toán, NHTM góp phần đẩy nhanh tốc độ luận chuyển tiền – hàng. Chức năng làm thủ quỹ cho xã hội Chức năng này đã có ngay trong thời kỳ sơ khai của hoạt động ngân hàng xuất phát từ nhu cầu muốn đảm bảo an toàn cho tài sản và mong muốn tích lũy giá trị của công chúng và các doanh nghiệp trong xã hội.
Thực hiện chức năng này, NHTM nhận tiền gửi của các chủ thể, giữ tiền, đáp ứng nhu cầu rút tiền và chi tiền của họ. Các hoạt động chính của NHTM Nghiệp vụ huy động vốn Ngân hàng sẽ tạm thời quản lý và sử dụng vốn của các chủ thể khác của nền kinh tế trong một thời gian nhất định. Nghiệp vụ huy động vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc tạo ra nguồn cho ngân hàng để thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh khác. Các hình thức huy động vốn của NHTM gồm: Tiền gửi: Ngân hàng sẽ nhận tiền gửi từ các cá nhân, tổ chức khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn và tiết kiệm.
NHTM sẽ huy động chủ yếu nguồn vốn này, do đó quy mô và chất lượng của nguồn vốn từ tiền gửi sẽ quyết định hiệu quả kinh doanh của NHTM 7 Tiền gửi không kỳ hạn: Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào. Tiền gửi có kỳ hạn: là loại tiền gửi mà khách hàng được rút ra sau một thời gian nhất định từ một vài tháng đến một vài năm. Tiền gửi tiết kiệm: tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của chủ thể được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi. Vốn vay: Bên cạnh nguồn vốn tiền gửi thì các NHTM cũng có thể chủ động huy động các nguồn vốn vay để tài trợ cho các hoạt động của ngân hàng.
Phát hành chứng từ có giá: trong hình thức này ngân hàng chủ động phát hành phiếu nợ để huy động vốn thường nhằm mục đích đã định. Vay của ngân hàng trung ương: bất kỳ NHTM bào khi được Ngân hàng Trung ương cho phép thành lập hoạt động đều được hưởng quyền vay tiền tại Ngân hàng Trung ương trong trường hợp cần bổ sung nhu cầu vốn khả dụng. Vay các ngân hàng và các tổ chức tài chính khác: một mục đích quan trọng của loại vay này là nhằm đảm bảo nhu cầu vốn khả dụng trong thời gian ngắn. Các nguồn vốn vay khác: các NHTM cũng có thể đi vay tại các công ty mẹ nếu NHTM thuộc một tập đoàn tài chính hoặc sử dụng các hợp đồng mua lại để huy động các nguồn vốn ngắn hạn.
Vay nước ngoài: một nguồn vốn mà các NHTM có thể tận dụng đó là phát hành các công cụ nợ ra thị trường quốc tế. Vốn tự có của ngân hàng: vốn tự có là phần còn lại có giá trị bằng tổng tài sản trừ đi nợ phải trả. Trong bảng cân đối kế toán của NHTM mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn nhưng đóng một vai trò vô cùng quan trọng tới hoạt động của NHTM. Vốn tự có có thể chia thành hai phần gồm vốn tự có và coi như vốn tự có.
8 Vốn tự có: bao gồm vốn điều lệ (hay vốn pháp định) là vốn mà NHTM phải có để đi vào hoạt động và được ghi trong văn bản pháp quy và các quỹ dự trữ để bổ sung vốn pháp định và quỹ dự trữ đặc biệt để dụ phòng bù đắp rủi ro. Vốn coi như vốn tự có: Bao gồm phần lợi nhuận chưa chia, các quỹ khác chưa sử dụng có thể xem là phần vốn coi như tự có của NHTM, vì đó là những khoản tiền mà ngân hàng phải sử dụng vào mục đích nhất định nhưng chưa sử dụng. Nghiệp vụ sử dụng vốn Sử dụng nguồn vốn huy động được từ nền kinh tế cũng như nguồn vốn tự có của ngân hàng, các ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ cho vay, đầu tư cung cấp nguồn vốn đến các chủ thể có nhu cầu, đồng thời thu phí các khoản này để bù đắp cho những chi phí khi huy động vốn cũng như tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Tín dụng: Các chủ thể trong nền kinh tế sẽ được ngân hàng cung ứng vốn trực tiếp hoặc gián tiếp để đáp ứng nhu cầu trên cơ sở thỏa mãn các điều kiện tín dụng của ngân hàng.
Cho vay: Ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng một lượng vốn nhất định cho khách hàng trong một thời gian nhất định, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn thanh toán. Chiết khấu: là việc các NHTM mua lại các GTCG chưa đến hạn thanh toán của khách hàng sau đi trừ đi tiền lãi chiết khấu, hoa hồng, phí. Còn tái chiết khấu là việc ngân hàng mua lại các GTCG này trên thị trường thứ cấp, chứ không phải trực tiếp từ tay khách hàng. Bảo lãnh: Bảo lãnh ngân hàng chính là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ hưởng của hợp đồng khoản đền bụ trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy bảo lãnh nếu bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình trong hợp đồng.
9 Thẻ tín dụng: là thẻ do ngân hàng phát hành, cho phép chủ thẻ tín dụng có thể chi tiêu trước, trả tiền sau. Bao thanh toán: là một hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hóa đã được bên bán hàng và bên mua hàng thỏa thuận tại hợp đồng mua bán. Nghiệp vụ trung gian Với mục đích tìm kiếm lợi nhuận, tạo lập uy tín, mở rộng thị trường các NHTM thực hiện cung cấp các dịch vụ như dịch vụ thanh toán, kinh doanh ngoại hối, các nghiệp vụ ủy thác và đại lý theo yêu cầu của khách hàng. Đồng thời với xu hướng ngân hàng đa năng hiện nay, NHTM còn thực hiện các dịch vụ chứng khoán và bảo hiểm.
Tổng quan về hiệu quả hoạt động NHTM 1. Khái niệm hiệu quả hoạt động NHTM Đối với hầu hết chủ thể trong nền kinh tế thì mục tiêu được ưu tiên hàng đầu chính là lợi nhuận, do đó việc đánh giá hiệu quả hoạt động của một chủ thể kinh tế được phản ánh dựa trên trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã đặt ra mà ở đây trực tiếp là lợi nhuận, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và những chi phí bỏ ra để có được kết quả đó. Như vậy có thể nói nếu sử dụng khái niệm trên thì một NHTM được xem là hiệu quả khi tạo ra lợi nhuận cao nhất trong sự tương quan với nguồn lực đầu vào. Như vậy, hiệu quả hoạt động của các NHTM quyết định trực tiếp tới vấn đề tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng.
Một NHTM có hiệu quả hoạt động cao sẽ tạo được uy tín và vị thế từ đó thu hút được khách hàng và các nhà đầu tư. “Trong hoạt động của NHTM, hiệu quả hoạt động của ngân hàng có thể được hiểu ở hai khía cạnh như sau: Trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào thành các đầu ra hay khả năng sinh lời hoặc giảm thiếu chi phí để tăng khả năng cạnh tranh với các định chế tài chính khác. Xác suất hoạt động an toàn của ngân hàng.