chương 1, chương 2 của khóa luận sẽ đi sâu vào phân tích những vấn đề về năng lực tài chính của ngân hàng thương mại, phương pháp đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng đặc biệt thông qua sử dụng mô hình CAMELS. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NHTM QUA MÔ HÌNH CAMELS 2.1 Tổng quan về năng lực tài chính của ngân hàng thương mại 2.1 Quan điểm về phân tích tài chính của NHTM Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 3, điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội ban hành ngày 16/6/2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2011 NHTM được định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Là loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế với đặc thù kinh doanh tiền tệ gắn với nhiều rủi ro, vì vậy việc đánh giá năng lực tài chính của NHTM là vô cùng quan trọng. Theo giáo trình Tài chính học (Mai Thanh Quế, 2013): “Tài chính là cách thức tạo lập, phân bổ và sử dụng nguồn tài chính của từng chủ thể trong xã hội nhằm đạt được các mục tiêu của từng chủ thể đó.
Thực chất, tài chính phản ánh các quan hệ phân phối nguồn tài chính thông qua quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các mục tiêu khác nhau của các chủ thể trong xã hội”. Trên thực tế thuật ngữ “năng lực tài chính” thường xuyên được sử dụng để đánh giá kế quả hoạt động của các đơn vị kinh doanh, tuy nhiên chưa có một khái niệm chính thống nào được đưa ra khi đề cập đến nội dung này. Lã Thị Tâm (2015) cho rằng: “Năng lực tài chính của NHTM là khả năng tạo lập nguồn vốn và sử dụng vốn để đáp ứng tối đa nhu cầu trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra của NHTM”. Hà Thị Thu Phương (2018) nhận định rằng: “Năng lực tài chính của ngân hàng là tập hợp các tiêu chí chỉ rõ tỷ trọng vốn chủ sở hữu trong tổng vốn kinh doanh và lợi nhuận gia tăng hằng năm đảm bảo đủ nguồn lực để NHTM phát riển trong điều kiện cạnh tranh hiện đại”.
Từ hai ý kiến trên, có thể thấy năng lực tài chính của NHTM không chỉ là nguồn vốn đảm bảo hoạt động kinh doanh của ngân hàng mà còn là cách thức khai thác, sử dụng nguốn vốn đó mang lại lợi nhuận cho ngân hàng. Như vậy năng lực 8 tài chính không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện tiềm năng phát triển của ngân hàng trong tương lai.2 Sự cần thiết phải đánh giá năng lực tài chính của NHTM Việc phân tích, đánh giá năng lực tài chính của NHTM chiếm một vị trí quan trọng và cần thiết đặc biệt trong bối cảnh ngày nay. Bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng đã đặt ra cho các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng không ít có hội và thách thức, đặc biệt là đối với hệ thống ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại. Với đặc thù là ngành nghề kinh doanh tiền tệ, tiềm ẩn nhiều rủi ro, các NHTM vẫn luôn phải đối mặt với vô vàn những thách thức: nợ xấu gia tăng, khả năng thanh khoản giảm, nguy cơ thiếu hụt vốn, sức ép cạnh tranh,…Bên cạnh đó, nền tài chính Việt Nam nói chung và hệ thống NHTM Việt Nam nói riêng còn non trẻ, còn tồn tại nhiều vấn đề khó khăn, đặc biệt là việc quản lý các hoạt động của các NHTM với các loại hình sở hữu khác nhau đã trở thành thách thức lớn đối với các nhà quản trị.
Do đó vấn đề thanh tra, giám sát nhằm ngăn ngừa rủi ro của hệ thống NHTM trở nên vô cùng quan trọng, cần thiết. Các ngân hàng luôn cần có cái nhìn khách quan, chính xác về tình hình tài chính, hoạt động của mình để đưa ra những chiển lược phù hợp để không bị thụt lùi về phía sau trong quá trình phát triển. Việc đánh giá năng lực tài chính của các NHTM là điều không thể thiếu đối với các nhà quản trị, qua đó họ có thể đưa ra cái nhìn khách quan, chính xác về năng lực tài chính của từng ngân hàng nói riêng và của cả hệ thống ngân hàng nói chung ở thời điểm hiện tại để đưa ra các biện pháp phòng ngừa, giải quyết kịp thời, đồng thời đưa ra những dự báo, kế hoạch trong tương lai đảm bảo cho ngân hàng ngày càng phát triển. Phân tích, đánh giá năng lực tài chính không chỉ đem lại lợi ịch cho riêng ngân hàng đó mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với các đối tượng bên ngoài ngân hàng.
Bên cạnh việc hỗ trợ các nhà lãnh đạo nội bộ ngân hàng đưa ra những chiến lược kinh doanh mang lợi nhuận cao, việc phân tích, đánh giá năng lực tài chính này còn giúp các nhà đầu tư muốn lựa chọn ngân hàng để đầu tư có thể xem xét khách quan qua kết quả phân tích, đánh giá và thu thập thông tin về tình hình năng lực tài chính của ngân hàng, qua đó có những quyết định đầu tư đúng đắn. Các cá 9 nhân, tổ chức cũng có thể dựa vào kết quả phân tích, đánh giá đó để lựa chọn việc trở thành khách hàng và đặt niềm tin với các quyết định giao dịch với ngân hàng. Ngoài ra, phân tích đánh giá năng lực tài chính cũng cung cấp thông tin cho các cấp quản lý và nhà nước xây dựng, điều chỉnh những chính sách quản lý vĩ mô, các biện pháp kiểm soát, thúc đẩy kinh tế phát triển.3 Các phương pháp đánh giá năng lực tài chính của NHTM a. Phương pháp chấm điểm Theo quyết định số 06/2008/QĐ – NHNN quyết định ban hành quy định xếp loại NHTMCP do thống đốc NHNN ban hành ngày 12/03/2008 thì các ngân hàng được tính điểm trên cơ sở các chỉ tiêu: vốn tự có, chất lượng tài sản, năng lực quản trị, kết quả hoạt động kinh doanh, khả năng thanh khoản.
Tổng số điểm đánh giá xếp loại của mỗi ngân hàng là 100 điểm với cơ cấu điểm của từng chỉ tiêu được quy định như sau: vốn tự có (mức điểm tối đa là 35 điểm, tối thiểu là -3 điểm), chất lượng tài sản (mức điểm tối đa là 15 điểm, tối thiểu là 0 điểm), kết quả kinh doanh (mức điểm tối đa là 20 điểm, tối thiểu là 0 điểm), khả năng thanh khoản (mức điểm tối đa là 15 điểm, tối thiểu là 0 điểm), năng lực quản trị (mức điểm tối đa là 15 điểm, tối thiểu là 0 điểm). Tổng điểm của mỗi NHTM bằng tổng cộng số điểm của từng chỉ tiêu, sau đó được xếp hạng A, B, C và D tương ứng với từng khoảng điểm. Phương pháp đánh giá dựa vào các mô hình Ngoài các phương pháp phân tích truyền thống, các nhà phân tích còn áp dụng phương pháp hiện đại hơn đó là phân tích đánh giá chủ yếu dựa vào mô hình. Trên thế giới có nhiều mô hình được sử dụng để phân tích, đánh giá năng lực tài chính của NHTM như CAMELS, Moody’s, trong đó CAMELS là mô hình được sử dụng chủ yếu và rộng rãi hơn.
Theo thông tư 52/2018/TT-NHNN quy định về xếp hạng các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài do thống đốc NHNN ban hành ngày 16/06/2010 thì các TCTD và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được đánh giá và xếp hạng theo mô hình CAMELS - dựa vào 6 yếu tố: mức độ an toàn vốn (C), Chất lượng tài sản có (A), năng lực quản lý (M), khả năng sinh lời (E), khả năng thanh khoản (L), mức độ 10 nhạy cảm với rủi ro thị trường (S). Sử dụng CAMELS có thể khái quát đầy đủ các vấn đề trong hoạt động của ngân hàng do CAMELS phân tích cả yếu tố định tính và định lượng. Nhờ đó có thể nắm bắt được tình hình hoạt động hiện tại đồng thời khái quát được những khủng hoảng tiềm tàng. Tuy nhiên, số liệu mà CAMELS sử dụng đến từ nguồn thông tin có được từ báo cáo tài chính, khảo sát,…nên có thể bị sai lệch, không chính xác và những đánh giá phụ thuộc khá nhiều vào ý kiến chủ quan của nhà phân tích.
Theo Moody’s (2007), Moody’s là một tổ chức xếp hạng độc lập, xếp hạng tín nhiệm ngân hàng của Moody’s bao gồm hai nhóm xếp hạng chính: xếp hạng năng lực tài chính của ngân hàng và xếp hạng tiền gửi của khách hàng. Việc đánh giá năng lực tài chính ngân hàng được xem xét dựa trên các yếu tố nội tại và yếu tố bên ngoài. Yếu tố nội tại bao gồm: các chỉ tiêu tài chính, giá trị thương hiệu, các rủi ro phi hệ thống, môi trường kinh doanh, yếu tố ngành, qua đó đánh giá sức khỏe tài chính của ngân hàng. Yếu tố bên ngoài bao gồm trần lãi suất tiền gửi nội tệ và các yếu tố hỗ trợ bên ngoài (xếp hạng tiền gửi nội tệ); và trần lãi suất tiền gửi ngoại tệ, xác suất cần sự hỗ trợ từ bên ngoài (xếp hạng tiền gửi ngoại tệ).2 Đánh giá năng lực tài chính của NHTM theo mô hình CAMELS 2.
Giới thiệu khái quát về mô hình CAMELS Mô hình Camels là mô hình dùng để đánh giá toàn diện các mặt hoạt động của một ngân hàng và được viết tắt từ các chữ cái đầu của các chữ tiếng anh: C – Capital Adequacy (mức độ an toàn vốn), A - Asset Quality (chất lượng tài sản), M – Management competence (chất lượng quản lý), E – Earnings strength (lợi nhuận), L – Liquidity risk (thanh khoản), S- Sensitivity to market risk (độ nhạy cảm với rủi ro thị trường). Ở Việt Nam, trong dự án “Xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ giám sát từ xa” mà Cơ quan Thanh tra Giám sát thuộc NHNN triển khai cũng áp dụng mô hình CAMELS để chấm điểm và xếp hạng các tổ chức tín dụng. Phương pháp tiếp cận CAMELS nhấn mạnh những khía cạnh cơ bản khi đánh giá tính ổn định của ngân hàng. Mặc dù có xu hướng cho rằng các chỉ tiêu của CAMELS là độc lập với nhau (ví dụ, chỉ tiêu an toàn vốn (C) của ngân hàng là tốt, 11 nhưng chỉ tiêu chất lượng tài sản (A) lại thấp) nhìn chung, chúng ta phải đặt các chỉ tiêu này trong mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau trong quá trình phân tích.
Mô hình CAMELS sẽ cho điểm từ 1 đến 5 đối với từng sáu yếu tố cấu thành, trên cơ sở đó hình thành nên mức điểm tổng hợp theo năm thang điểm như sau: Hạng 1: Vững mạnh toàn diện. Các yếu tố CAMELS riêng lẻ thường có mức 1 hoặc 2.