CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI THEO MÔ HÌNH CAMEL. Tổng quan về hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại. Khái niệm về hiệu quả hoạt động. Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội.
Mỗi một lĩnh vực khác nhau, xem xét trên các góc độ khác nhau thì người ta có những cách nhìn nhận khác nhau về vấn đề hiệu quả. Xét trên bình diện các quan điểm kinh tế học khác nhau cũng có nhiều ý kiến khác nhau về hiểu như thế nào về hiệu quả kinh doanh. Ưu điểm của quan điểm này là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên chưa biểu hiện được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chưa phản ánh được hết mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này.
Theo Ngân hàng Trung Ương châu Âu (European Central Bank - ECB) (2010): hiệu quả hoạt động là khả năng tạo ra lợi nhuận bền vững. Lợi nhuận thu được đầu tiên dùng dự phòng cho các khoản lỗ bất ngờ và tăng cường vị thế về vốn, rồi cải thiện lợi nhuận thu được trong tương lai thông qua đầu tư từ các khoản lợi nhuận giữ lại. Theo Antonio, Ludger và Vito (2006) thì “Hiệu quả là phép so sánh giữa đầu vào và đầu ra hay giữa lợi nhuận và chi phí. Với cùng đầu vào cho trước, hoạt động nào tạo ra đầu ra lớn hơn sẽ là hoạt động hiệu quả hơn”.
Từ các quan điểm trên có thể hiểu một cách khái quát hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (nhân tài, vật lực, tiền vốn.) để đạt được mục tiêu xác định. Trình độ lợi dụng các nguồn lực chỉ có thể được đánh giá trong mối quan hệ với kết quả tạo ra để xem xét xem với mỗi sự hao phí nguồn lực xác định có thể tạo ra kết quả ở mức độ nào nhằm đạt kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất. Tóm lại, hiệu quả kinh doanh là một đại lượng so sánh: So sánh giữa đầu vào và đầu ra, so sánh giữa chi phí kinh doanh bỏ ra và kết quả kinh doanh thu được. Đứng trên góc độ xã hội, chi phí xem xét phải là chi phí xã hội, do có sự kết hợp của các yếu tố lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động theo một tương quan cả về lượng 7 và chất trong quá trình kinh doanh để tạo ra sản phẩm đủ tiêu chuẩn cho tiêu dùng.Hiệu quả kinh doanh phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh doanh, trình độ nguồn lực sản xuất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp trong sự vận động không ngừng của các quá trình sản xuất kinh doanh, không phụ thuộc vào tốc độ biến động của từng nhân tố.
Ngân hàng cũng là một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù và hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận với rủi ro thấp, bảo toàn vốn, tăng thị phần, thu hút đầu tư và nâng cao uy tín thương hiệu. Đánh giá hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại có thể được chia làm hai nhóm đó là hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả tương đối: Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tuyệt đối (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế - chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó) cho phép đánh giá hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại theo cả chiều sâu và chiều rộng. Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tương đối có thể được thể hiện dưới dạng tĩnh (hiệu quả hoạt động = kết quả kinh tế/chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó hoặc dạng nghịch hiệu quả hoạt động = chi phí/ kết quả kinh tế) hoặc dưới dạng động hay dạng cận biên (hiệu quả hoạt động = mức tăng kết quả kinh tế/mức tăng chi phí). Khóa luận này sẽ đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM theo hướng đánh giá hiệu quả tương đối (lợi nhuận thu được/ chi phí bỏ ra) của ngân hàng vì những chỉ tiêu này rất thuận tiện so sánh theo thời gian và không gian như cho phép so sánh hiệu quả giữa các ngân hàng có quy mô khác nhau, các thời kỳ khác nhau.
Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thông thường được đo lường thông qua các chỉ số tài chính về khả năng sinh lời. Các chỉ số tài chính giúp phân tích các dữ liệu tài chính của ngân hàng, từ đó thể hiện rõ tình hình tài chính của ngân hàng. Các tỷ lệ quan trọng nhất đo lường khả năng sinh lời của ngân hàng được sử dụng rộng rãi hiện nay bao gồm gồm: Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), thu nhập lãi ròng cận biên (NIM), thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM) và thu nhập trên cổ phiếu (EPS).
ROA là chỉ tiêu chủ yếu phản ánh tính hiệu quả của quản lý. Nó chỉ ra rằng khả năng của hội đồng quản trị ngân hàng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng 8 thành thu nhập ròng. ROA được sử dụng rộng rãi trong phân tích hiệu quả hoạt động và đánh giá tình hình tài chính của ngân hàng. Nếu ROA thấp có thể là kết quả của một chính sách đầu tư hay cho vay không năng động hoặc có thể chi phí hoạt động của ngân hàng quá mức.
Ngược lại, mức ROA cao thường phản ánh kết quả hoạt động hữu hiệu, cơ cấu tài sản hợp lý, có sự điều động linh hoạt giữa các hạng mục trên tài sản trước những biến động của nền kinh tế. ROE là một chỉ tiêu đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng. Nó thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vào ngân hàng (tức là đầu tư chấp nhận rủi ro để hy vọng có được thu nhập ở mức hợp lý). Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM), thu nhập ngoài lãi cận biên (NNIM) là các thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời.
Chúng chỉ ra năng lực của 3 hội đồng quản trị cũng như nhân viên ngân hàng trong việc duy trì sự tăng trưởng của các nguồn thu (chủ yếu từ các khoản cho vay, đầu tư và phí dịch vụ) so với mức tăng của các khoản chi phí (chủ yếu là chi trả lãi tiền gửi, những khoản vay trên thị trường tiền tệ, tiền lương nhân viên và phúc lợi). Tỷ lệ thu nhập lãi ròng cận biên (NIM) đo lường mức chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi nguồn vốn có chi phí thấp. Trái lại, tỷ lệ thu ngoài lãi cận biên (NNIM) đo lường mức chênh lệch giữa nguồn thu ngoài lãi, chủ yếu là nguồn thu phí từ các dịch vụ với các chi phí ngoài lãi mà ngân hàng phải chịu (gồm tiền lương, chi phí sửa chữa, bảo hành thiết bị và chi phí tổn thất tín dụng). Thu nhập trên mỗi cổ phiếu (EPS) đo lường trực tiếp thu nhập của các cổ đông tính trên mỗi cổ phiếu hiện hành đang lưu hành 1.
Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các Ngân hàng Thương mại. Trong nền kinh tế thị trường đang cạnh tranh ngày càng khốc liệt như hiện nay, việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM có ý nghĩa rất to lớn, được thể hiện qua các mặt sau : Vai trò quan trọng nhất của hệ thống ngân hàng tại quốc gia nào trên thế giới cũng là cung cấp vốn từ những nơi thừa hoặc chưa có nhu cầu sử dụng đến nơi đang cần vốn để đầu tư cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy, một khi các 9 NHTM hoạt động có hiệu quả chứng tỏ nguồn vốn của nền kinh tế được phân bổ có hiệu quả, từ đó đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước. Khi một ngân hàng hoạt động ngày càng có hiệu quả thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi trong việc giảm chi phí cung cấp nguồn vốn và các dịch vụ khác, từ đó các doanh nghiệp trong nền kinh tế có thể vay vốn với chi phí thấp hơn, góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng.
Ngược lại, khi nền kinh tế phát triển ổn định sẽ có tác động tích cực trở lại làm cho NHTM phát triển và hoạt động có hiệu quả hơn. Ngân hàng hoạt động có hiệu quả sẽ là tiền đề quan trọng để ngân hàng tăng trưởng và tích lũy nguồn lực để đầu tư áp dụng và phát triển công nghệ hiện đại, giúp ngân hàng có đủ tiềm lực để cạnh tranh với các ngân hàng trong nước và quốc tế. Các phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng Thương mại. Mô hình Dupont.
Mô hình Dupont là mô hình phân tích tài chính tại doanh nghiệp nói chung và tại các ngân hàng thương mại nói riêng mà tỷ lệ lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) thường được sử dụng để đo lường khả năng sinh lời của NHTM bằng cách phân tích các yếu tố cấu thành. Đây là con số tổng hợp thiết yếu về kết quả kinh doanh của pháp nhân ngân hàng, có ảnh hưởng quan trọng đến nhà đầu tư trong việc quyết định đầu tư vào ngân hàng hay không? Nhà đầu tư muốn biết, họ sẽ thu được bao nhiêu tiền khi đầu tư vào ngân hàng. ROE = x x x x ROE = Hiệu quả quản trị chi phí thuế + Hiệu quả quản trị chi phí + Hiệu quả quản trị tài sản + Hiệu suất sử dụng tài sản + số nhân đòn bẩy theo Lập & phân tích BCTC NHTM (2017, Học Viện Ngân Hàng) Việc phân tích này sẽ giúp cho các nhà quản trị ngân hàng có thể xác định được nhân tố nào trong các nhân tố trên có tác động lớn nhất đến tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu cũng như các tỷ lệ này đã đạt được như nhà quản trị mong muốn hay chưa từ đó đưa ra các quyết định quản trị phù hợp với điều kiện của ngân hàng mình. Mô hình CAMEL.
Hệ thống Xếp hạng Định chế Tài chính Thống nhất (The Uniform Financial Institution Rating System) hay còn được biết đến là hệ thống xếp hạng CAMEL, được Hội đồng Kiểm tra Định chế Tài chính Liên bang của Hoa Kỳ thông qua vào ngày 13 tháng 11 năm 1979, và sau đó được Cơ quan Quản lý Liên minh Tín dụng Quốc gia thông qua vào tháng 10 năm 1987.