Chương 1: Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM và phương pháp phân tích bao dữ liệu. - Chương 2: Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam bằng phương pháp phân tích bao dữ liệu. - Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Việt Nam. TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ PHƢƠNG PHÁP PHÂN TÍCH BAO DỮ LIỆU 1.1 Hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại Hiệu quả là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, kỹ thuật, khoa học, … Một cách đơn giản, hiệu quả được đo bằng tỷ lệ đầu ra và đầu vào: Hiệu quả=(đầu ra)/(đầu vào).
Nguồn lực đầu vào của một doanh nghiệp là các yếu tố đầu vào sản xuất như vốn, lao động, kỹ thuật. Đầu ra là kết quả kinh tế như sản phẩm, doanh thu, lợi nhuận. Luận văn thạc sĩ Kinh tế Theo Farrell (1957), hiệu quả của doanh nghiệp bao gồm hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Hiệu quả kỹ thuật là sự chuyển hóa các đầu vào vật lý (như nhân công, máy móc) thành các đầu ra với cách làm tốt nhất (best practice).
Nói cách khác, một đơn vị được coi là đạt hiệu quả kỹ thuật khi đơn vị đó có hiệu quả tốt nhất trong số các mẫu được xem xét. Hiệu quả kỹ thuật có thể được đánh giá về khả năng của một đơn vị trong việc tối đa hóa đầu ra trong điều kiện đầu vào cho trước (định hướng đầu ra) hoặc tối thiểu hóa tổng đầu vào để sản xuất một lượng đầu ra nhất định (định hướng đầu vào). Khi có những lựa chọn để thay thế giữa các yếu tố đầu vào với nhau thì mỗi đơn vị đều có những lựa chọn trong việc kết hợp các yếu tố đầu vào. Trên cơ sở cho trước giá tương đối của các đầu vào, một đơn vị được gọi là đạt hiệu quả phân bổ khi tìm được cách thức kết hợp các đầu vào để sản xuất một đầu ra cho trước với mức chi phí thấp nhất.
Tóm lại, theo tác giả hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM là sự so sánh kết quả đầu ra và các yếu tố nguồn lực đầu vào, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực trong quá trình hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh.2 Các phƣơng pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua chỉ tiêu tài chính Phương pháp đánh giá hiệu quả thông qua các chỉ tiêu tài chính thường được áp dụng khi đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có NHTM. Có nhiều chỉ tiêu tài chính khác nhau được sử dụng để đánh giá hoạt động kinh doanh của NHTM. Các nhóm chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng bao gồm: Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng sinh lợi Bao gồm: tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), hệ số thu nhập trên cổ phiếu (EPS), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên (NM). Luận văn thạc sĩ Kinh tế ROA là chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng trong quá trình chuyển tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.
Lợi nhuận ròng ROA = Tổng tài sản ROE đo lường tỷ lệ thu nhập cho các cổ đông của ngân hàng, thể hiện thu nhập mà các cổ đông nhận được từ việc đầu tư vốn vào ngân hàng. Lợi nhuận ròng ROE = Vốn chủ sở hữu NIM là chênh lệch giữa thu nhập lãi và chi phí lãi, tất cả chia cho tài sản có sinh lãi. NIM được các chủ ngân hàng quan tâm theo dõi vì nó giúp cho ngân hàng dự báo trước khả năng sinh lãi của ngân hàng thông qua việc kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và việc tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp nhất. (Thu nhập ngoài lãi – Chi phí ngoài lãi) NM = Tài sản có sinh lãi Ngoài ra, để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM, các mô hình phân tích khả năng sinh lời cũng được xem xét như mô hình đánh đổi rủi ro và lợi nhuận, mô hình phân chia tỷ lệ thu nhập trên vốn chủ sở hữu và mô hình tách các chỉ số phân tích lợi nhuận trên tài sản.
Bằng cách tách các tỷ lệ ROA, ROE thành nhiều tỷ lệ khác để đánh giá sự phụ thuộc của các chỉ tiêu ROA, ROE vào các tỷ lệ khác; hoặc phân tích mối quan hệ giữa ROA và ROE, các nhà quản trị có thể đánh giá toàn diện hơn hiệu quả hoạt động của NHTM. Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng kinh doanh - Luận Tổng chi phí văn thạc hoạt động/Tổng sĩ động: thu từ hoạt Kinhchỉ tiêutế này phản ánh mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, cho biết khả năng bù đắp chi phí trong hoạt động của NHTM. - Tổng thu nhập hoạt động/Tổng tài sản: chỉ tiêu này phản ánh hiệu suất sử dụng tài sản. Tỷ lệ này gồm 2 phần là Thu nhập lãi bình quân/Tổng tài sản và Thu nhập ngoài lãi bình quân/Tổng tài sản.
- Năng suất lao động (Thu nhập hoạt động/ số bình quân nhân viên làm việc toàn thời gian): là chỉ tiêu đo lường khả năng tạo ra thu nhập của một nhân viên ngân hàng trong một khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả sử dụng lao động của NHTM. Nhóm chỉ tiêu đánh giá rủi ro trong hoạt động của ngân hàng. Các chỉ tiêu tài chính thường được sử dụng để đánh giá rủi ro hoạt động bao gồm: 6 - Tỷ lệ nợ xấu (nợ xấu/tổng dư nợ cho vay): là chỉ tiêu phản ánh chất lượng tín dụng thường được sử dụng để đo lường rủi ro tín dụng của NHTM.
Tỷ lệ này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng ngày càng cao. - Hệ số rủi ro tín dụng (tổng dư nợ cho vay/tổng tài sản có): hệ số phản ánh tỷ trọng của khoản mục tín dụng trong tài sản có. Khoản mục tín dụng trong tổng tài sản càng lớn thì lợi nhuận sẽ càng cao, nhưng đồng thời rủi ro tín dụng cũng tăng lên. - Tổng cho vay/tổng vốn huy động: là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy động, đồng thời cũng là chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng.
Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ ngân hàng sử dụng vốn huy động chủ yếu là để cho vay nên rủi ro tín dụng càng cao. - Tỷ lệ giữa tài sản nhạy cảm lãi suất và nợ nhạy cảm lãi suất: tỷ lệ này đo lường rủi ro lãi suất. Khi quy mô tài sản nhạy cảm với lãi suất vượt quá các khoản nợ nhạy cảm lãi suất trong một thời gian nhất định, một ngân hàng có Luận văn thạc sĩ Kinh tế thể rơi vào tình trạng bất lợi và thua lỗ nếu lãi suất giảm, và ngược lại. - Dự trữ thanh khoản/tổng tài sản: là chỉ tiêu đo lường rủi ro thanh khoản của NHTM.
Tỷ lệ này càng nhỏ thì khả năng chống đỡ rủi ro thanh khoản càng yếu và ngược lại. Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này cao thì ngân hàng cần xem lại khả năng đánh đổi giữa rủi ro và lợi nhuận, vì tài sản thanh khoản có mức sinh lợi thường thấp hơn nhiều so với tài sản sinh lời khác. - Tỷ lệ đòn bẩy tài chính (tổng vốn chủ sở hữu/tổng tài sản): chỉ tiêu này phản ánh có bao nhiêu đồng vốn chủ sở hữu tạo ra một đồng tài sản và NHTM phải dựa vào nguồn vốn vay nợ là bao nhiêu. Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ NHTM vay nợ càng nhiều, tận dụng được đòn bẩy tài chính nhưng đồng thời rủi ro cũng tăng lên.
Bên cạnh các nhóm chỉ tiêu trên, các nhà quản trị ngân hàng còn sử dụng các chỉ tiêu khác để đánh giá hiệu quả hoạt động của NHTM như: Vốn huy động/Vốn tự có (phản ánh khả năng và quy mô thu hút vốn từ nền kinh tế), Tiền gửi không kỳ hạn/Tiền gửi có kỳ hạn (phản ánh khả năng cung ứng dịch vụ của ngân hàng), … 7 Phương pháp đánh giá hiệu quả thông qua các chỉ tiêu tài chính có ưu điểm là đơn giản, dễ hiểu. Tuy nhiên, mỗi chỉ tiêu tài chính biểu hiện mối quan hệ giữa hai biến số, phản ánh một khía cạnh trong hoạt động của NHTM. Vì vậy, để đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của NHTM, chúng ta phải sử dụng nhiều chỉ tiêu khác nhau. Điều này gây ra khó khăn cho nhà quản trị ngân hàng cũng như các cơ quan quản lý khi đánh giá và so sánh hiệu quả giữa các NHTM.
Để khắc phục các nhược điểm của phương pháp đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu tài chính, gần đây các nhà kinh tế đã sử dụng phương pháp phân tích hiệu quả biên để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM.2 Đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh bằng phƣơng pháp phân tích hiệu quả biên Phân tích hiệu quả biên là phương pháp xác định chỉ số hiệu quả tương đối dựa trên việc so sánh khoảng cách của các đơn vị với một đơn vị thực hiện hoạt Luận văn thạc sĩ Kinh tế động tốt nhất trên đường biên. Ưu điểm của phương pháp này là cho phép so sánh và đánh giá được hiệu quả sử dụng nguồn lực của các ngân hàng, xác định được chỉ số hiệu quả cho từng ngân hàng, đây cũng là hiệu quả tốt nhất mà một ngân hàng đang thực hiện khi so sánh với các ngân hàng khác. Phân tích hiệu quả biên được chia thành hai nhóm: tiếp cận tham số và tiếp cận phi tham số. Đánh giá hiệu quả bằng phƣơng pháp tiếp cận tham số Cách tiếp cận tham số dựa vào lý thuyết thống kê và/hoặc kinh tế lượng, chỉ ra một dạng hàm cụ thể đối với đường biên hiệu quả, tập trung vào một số biến ưu tiên (các biến có ảnh hưởng trực tiếp đến dữ liệu tính toán).
Hạn chế của phương pháp này là nếu việc xác định dạng hàm sai thì kết quả tính toán sẽ ảnh hưởng ngược lại đến các chỉ số hiệu quả, đồng thời cách tiếp cận này đòi hỏi người sử dụng phải có một số kiến thức toán học nhất định. 8 Cách tiếp cận tham số hướng tập trung vào hoạt động sản xuất và hoạt động chi phí của ngân hàng, qua đó hoạt động được đánh giá qua mô hình hồi quy được xem như hoạt động tối ưu của hệ thống ngân hàng.