CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN THEO MÔ HÌNH CAMEL. Cơ sở luận Trong những năm trở lại đây, mô hình CAMEL không chỉ được áp dụng cho các ngân hàng mà ngày càng nhiều các tổ chức tài chính cũng thông qua mô hình CAMEL để có đánh giá được tính lành mạnh và an toàn. Một số nghiên cứu mà tác giả đã tổng hợp được: Luận văn “ Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của CTCP chứng khoán Sài Gòn” của tác giả Đoàn Thị Thúy Vân đã nghiên cứu một số vấn đề cơ bản về hoạt động kinh doanh của CTCK và hiệu quả hoạt động của CTCK Sài Gòn, qua đó đưa ra một số đề xuất nhằm giúp SSI đạt được mục tiêu phát triển ổn định và bền vững. Bài viết “Ứng dụng mô hình CAMEL đánh giá mức độ an toàn tài chính tại công ty cổ phần chứng khoán SSI” của tác giả Trần Lan Thanh.
Trong bài viết, tác giả đã phân tích mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu trong hệ thống CAMEL tới tỷ lệ an toàn tài chính (CAR) và phân tích thực trạng an toàn tài chính tới CTCP chứng khoán SSI. Với đề tài tương tự “An toàn tài chính của các CTCK Việt Nam” của Hoàng Thị Bích Hà 2018 đã chỉ ra sự cần thiết phải đảm bảo an toàn tài chính của các CTCK, tiêu chí đánh giá an toàn tài chính của CTCK. Bài viết đã bổ sung cơ sở lý luận về an toàn tài chính của CTCK giúp các nhà nghiên cứu, các nhà điều hành và lãnh đạo doanh nghiệp. Ngoài ra, luận văn cũng đã phân tích một cách có hệ thống về thực trạng an toàn tài chính của các CTCK Việt Nam giai đoạn từ 2012 đến 2016 theo từng nhóm chỉ tiêu đánh giá, so sánh với chuẩn mực đánh giá của Việt Nam và thông lệ chuẩn mực quốc tế.
Hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán 1. Khái niệm của hiệu quả hoạt động của công ty chứng khoán Kinh doanh là việc thực hiện một số hoặc thực hiện tất cả các công đoạn của quá trình từ đầu tới sản xuất đến tiêu thụ hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Các doanh nghiệp quan tâm nhất chính là vấn đề hiệu quả kinh doanh. Sản xuất kinh doanh có hiệu quả giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Hiểu theo 3 mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh đồng nghĩa với phạm trù lợi nhuận, là hiệu số giữa kết quả thu về với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh cao hay thấp phụ thuộc vào trình độ tổ chức sản xuất và quản lý của mỗi doanh nghiệp. Với bất kỳ một tổ chức doanh nghiệp thì mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận luôn được đặt lên hàng đầu và các CTCK cũng không phải ngoại lệ. Các CTCK luôn cố gắng tối đa hóa lợi ích của khách hàng, gia tăng nguồn vốn, cùng phát triển với khách hàng và chăm lo đời sống cho công nhân viên.
Ngoài ra CTCK là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và của thị trường chứng khoán nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành tới người đầu tư qua đó huy động nguồn vốn từ nơi nhàn rỗi để phân bổ vào những nơi cần vốn. Đối với thị trường chứng khoán: Hiệu quả hoạt động của CTCK thể hiện bằng cách tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Các hoạt động của CTCK như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các công ty chứng khoán không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các tài sản tài chính được đầu tư.
Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư, do thực hiện các giao dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những tài sản tài chính. Đối với CTCK: Hiệu quả hoạt động của CTCK thể hiện qua các chỉ tiêu tài chính như doanh thu, lợi nhuận, thị phần khách hàng mà công ty chiếm lĩnh và thương hiệu của công ty. Ngoài ra thì trình độ kiến thức cũng như trách nhiệm và phẩm chất năng lực của đội ngũ nhân viên là nền tảng vững chắc giúp CTCK hoạt động một cách hiệu quả.
Đối với các cơ quan quản lý thị trường: Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về thị trường chứng khoán cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó. Các công ty chứng khoán thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của thị trường chứng khoán là các thông tin cần phải được công khai hoá dưới sự giám sát của các cơ quan quản lý 4 thị trường. Việc cung cấp thông tin vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì công ty chứng khoán cần phải minh bạch và công khai trong hoạt động.
Các thông tin công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua, bán trên thị trường, thông tin về các cổ phiếu. trái phiếu và tổ chức phát hành, thông tin về các nhà đầu tư…Nhờ các thông tin này, các cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị trường. Đến nay thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đã hoạt động được hơn 20 năm. Trải qua các giai đoạn thăng trầm của TTCK Việt Nam , hiệu quả hoạt động kinh doanh của các công ty chứng khoán (CTCK) theo đó cũng bị ảnh hưởng.
Tuy nhiên từ 2013 đến nay, thực hiện tái cấu trúc các CTCK, hoạt động kinh doanh của CTCK đã dần ổn định và hiệu quả hơn. Trước xu thế hội nhập, cạnh tranh gay gắt, việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các CTCK là vô cùng cần thiết , giúp các CTCK có thể tồn tại và phát triển lâu dài. Thước đo đánh giá hiệu quả hoạt động của CTCK 1. Cơ cấu tài sản - nguồn vốn Cơ cấu tài sản: Để đánh giá một cách khách quan về tình hình tài chính CTCK, chúng ta cần đánh giá tỷ trọng tài sản mà CTCK đang nắm giữ thể hiện trong bảng tổng kết tài sản.
Cơ cấu nguồn vốn: Cơ cấu vốn là một trong các yếu tố quyết định đến chi phí sử dụng vốn bình quân (WACC) của CTCK. Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) hay thu nhập trên một cổ phần (EPS) và rủi ro tài chính của một doanh nghiệp. Khi xem xét cơ cấu nguồn vốn của một CTCK, người ta chú trọng đến mối quan hệ giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu trong nguồn vốn của doanh nghiệp. Hệ số nợ phản ánh nợ phải trả chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của CTCK hay trong tài sản của CTCK bao nhiêu phần trăm được hình thành bằng nguồn nợ phải trả.
5 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛ợ 𝐻ệ 𝑠ố 𝑛ợ = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑛𝑔𝑢ồ𝑛 𝑣ố𝑛 Hệ số vốn chủ sở hữu phản ánh vốn chủ sở hữu chiếm bao nhiêu phần trăm trong tổng nguồn vốn của CTCK. Nhìn trên tổng thể, nguồn vốn của CTCK được hình thành từ hai nguồn: vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Khả năng thanh toán ngắn hạn Khả năng thanh toán ngắn hạn của CTCK là các hệ số phản ánh khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, nợ quá hạn phải trả của doanh nghiệp. Các hệ số này là căn cứ để CTCK xác định giá trị thực tế ngay tại thời điểm công ty xác định khả năng thanh toán.
Việc tính toán các hệ số dựa trên các mục đích xem xét, đánh giá khác nhau mà đưa đến giá trị khác nhau. CTCK xem xét khả năng thanh toán ngắn hạn trên nhiều phương diện và góc độ khác nhau. Mỗi góc độ lại cho đến một ý nghĩa khác nhau. Hướng đến phục vụ cho công tác đánh giá và nhận định thực tế khả năng ngắn hạn của doanh nghiệp.
Khả năng thanh toán nợ ngắn hạn được đo lường bằng giá trị thuần của tài sản ngắn hạn hiện có với số nợ ngắn hạn phải trả (kể cả nợ dài hạn đến hạn trả). Khả năng này được đánh giá dựa trên chỉ tiêu thông qua chỉ tiêu Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn. Trong đó: 𝑇à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 𝐻ệ 𝑠ố 𝑘ℎả 𝑛ă𝑛𝑔 𝑡ℎ𝑎𝑛ℎ 𝑡𝑜á𝑛 𝑛ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 = 𝑁ợ 𝑛𝑔ắ𝑛 ℎạ𝑛 Với giá trị thuần của tài sản ngắn hạn hiện có, CTCK có đủ khả năng trang trải các khoản nợ ngắn hạn hay không. Giá trị về hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn giúp CTCK xác định các cách thức tham gia vào hoạt động kinh doanh ngắn hạn.
Hay có thể là việc sẽ sử dụng tài sản như thế nào vào sản xuất, chi phí đi kèm,… Khả năng thanh toán nhanh đặc trưng cho khả năng thực hiện các hoạt động đối với các khoản nợ ngắn hạn. Để xem một CTCK có khả năng trước mắt ra sao, các tài sản 6 thực tế (không chứa hàng tồn) có thể tham gia vào hoạt động gì. được đo lường bằng bộ phận giá trị còn lại của tài sản ngắn hạn (đã loại bỏ hàng tồn kho) so với nợ ngắn hạn phải trả. Khả năng này được đánh giá thông qua chỉ tiêu Hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Chỉ tiêu về năng lực hoạt động Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản được xác định qua việc chia doanh thu hoạt động kinh doanh trong kỳ kế toán cho tổng tài sản bình quân. 𝐷𝑜𝑎𝑛ℎ 𝑡ℎ𝑢 ℎ𝑜ạ𝑡 độ𝑛𝑔 𝑘𝑖𝑛ℎ 𝑑𝑜𝑎𝑛ℎ 𝐻𝑖ệ𝑢 𝑠𝑢ấ𝑡 𝑠ử 𝑑ụ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 = 𝑇ổ𝑛𝑔 𝑡à𝑖 𝑠ả𝑛 𝑏ì𝑛ℎ 𝑞𝑢â𝑛 Hiệu suất sử dụng tài sản=(Doanh thu hoạt động kinh doanh)/(Tổng tài sản bình quân) Chỉ số này có xu hướng chỉ ra mức độ hiệu quả trong sử dụng tài sản của CTCK. Nếu chỉ số hiệu quả sử dụng tài sản cao có thể cho rằng CTCK đã sử dụng tài sản tạo ra doanh thu hiệu quả. Chỉ tiêu về khả năng sinh lời Hiệu quả hoạt động là một trong những yếu tố quyết định khả năng sinh lời của CTCK.
Với các yếu tố khác không đổi, nếu một CTCK có hiệu quả hoạt động cao hơn thì khả năng sinh lời cũng cao hơn và ngược lại.