Đặt vấn đề Hiện nay, Việt Nam đang phải đối mặt với thách thức lớn về tình trạng ô nhiễm nguồn nước, đặc biệt là tại các khu công nghiệp, đô thị và các từ các hoạt động sinh hoạt sản xuất của người dân. Tại các thành phố lớn, lượng nước thải chưa qua xử lý của hàng trăm cơ sở sản xuất công nghiệp xả thẳng ra môi trường là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường nguồn nước. Ở khu vực nông thôn, tình trạng ô nhiễm nguồn nước cũng không ngừng gia tăng. Theo thống kê, có 76% số dân đang sinh sống ở nông thôn, là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc rửa trôi làm cho tình trạng ô nhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao.
Bên cạnh đó, việc lạm dụng các chất bảo vệ thực vật trong sản xuất nông nghiệp dẫn đến các nguồn nước ở sông, hồ, kênh, mương bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và sức khoẻ của con người. Hậu quả chung của tình trạng ô nhiễm nước là tỉ lệ người mắc các bệnh cấp và mạn tính liên quan đến ô nhiễm nước như viêm da, tiêu hoá, tiêu chảy và nguy cơ ung thư ngày càng cao. Tại một số địa phương, trường hợp bệnh nhân mắc bệnh ung thư, viêm nhiễm phụ khoa chiếm từ 40 - 50%, nguyên nhân là do từng sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm. Theo đánh giá của các Bộ Y tế và NN&PTNT, trung bình mỗi năm, Việt Nam có khoảng 9.000 người chết vì nguồn nước và điều kiện vệ sinh kém, trên 100.000 trường hợp mắc ung thư mới phát hiện mà một trong những nguyên nhân chính là do sử dụng nguồn nước ô nhiễm.
Ngoài ra, ô nhiễm nguồn nước đang gây tổn thất lớn cho các ngành sản xuất kinh doanh, nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản… 2. Tính cấp thiết của đề tài “Môi trường và phát triển bền vững” là những vấn đề được nhiều nước và nhiều tổ chức quốc tế đặc biệt quan tâm. Ở một khía cạnh nào đó, để đảm bảo cho môi trường không bị suy thoái và phát triển một cách bền vững thì phải chú ý giải quyết vấn đề cung cấp nước sạch, thoát nước, xử lý nước thải vệ sinh môi trường một cách hợp lý nhất. Hiện nay, nước ta đang trên con đường phát triển, các khu dân cư đô thị mới và khu công nghiệp đang được quy hoạch và phát triển mạnh mẽ.
Tốc độ công 4 nghiệp hoá và đô thị hoá khá nhanh và sự gia tăng dân số gây áp lực ngày càng nặng nề đối với tài nguyên nước. Hầu hết nước thải sinh hoạt cũng như nước thải công nghiệp chưa được xử lý hoặc không được xử lý triệt để nhưng vẫn xả trực tiếp vào môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước mặt, nước ngầm, gây mất cảnh quan đô thị, tác động xấu đến điều kiện vệ sinh và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ cộng đồng và tác động tiêu cực tới nhịp độ phát triển kinh tế của cả nước. Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2014 đã nêu rõ: “Các đô thị và khu dân cư phải có hệ thống công trình thu gom, xử lý nước thải tập trung; hệ thống tiêu thoát nước mưa; hệ thống cơ sở thu gom, tập kết, xử lý, tái chế chất thải rắn,…” Thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, các cấp và các ngành liên quan đến bảo vệ môi trường đã có nhiều cố gắng trong việc kiểm soát ô nhiễm bằng nhiều biện pháp. Điển hình là xây dựng các công trình thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt cho các khu đô thị lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Bình Dương, Đồng Nai, Thành phố Hồ Chí Minh,… Tuy nhiên quá trình khảo sát và đánh giá còn gặp nhiều hạn chế và chưa có nhiều đề xuất giải pháp thiết thực để cải thiện hiệu quả trong quá trình vận hành.
Ở Việt Nam nói chung và cũng như trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng đã có nhiều nghiên cứu về đề tài khảo sát, đánh giá và đề xuất giải pháp. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện đề tài còn gặp nhiều bất cập và chưa đáp ứng được nhu cầu đặc thù của nhà máy xử lý nước thải. Vì vậy, đề tài “Khảo sát, đánh giá hiệu quả xử lý của hệ thống xử lý nước thải tại Chi nhánh nước thải Dĩ An và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý” đã được thực hiện. Mục tiêu nghiên cứu - Khảo sát, đánh giá hiệu quả xử lý của hệ thống xử lý nước thải tại Chi nhánh Dĩ An - Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nước thải cho Chi nhánh nước thải Dĩ An 5 4.
Phạm vi và đối tượng phạm vi nghiên cứu 4. Phạm vi nghiên cứu Về không gian: Quy trình xử lý nước thải trong Chi nhánh nước thải Dĩ An. Địa chỉ 39 Đường số 10 - KP. Tân Đông Hiệp – Thành phố Dĩ An - Bình Dương Về thời gian: từ 1/9/2020 đến 1/12/2020 4.
Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính của để tài này là hệ thống xử lý nước thải của Chi nhánh nước thải Dĩ An. Ý nghĩa khoa học Việc thực hiện khảo sát, đánh giá đã tìm ra những mặt bất cập và tồn tại của Chi nhánh. Từ đó, giúp Chi nhánh nước thải Dĩ An có những kế hoạch quản lý và phát triển tốt hơn trong tương lai. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 1. Tình hình nghiên cứu trong nước Ở nước ta hiện nay, nhiều nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt được xây dựng với quy mô và mức độ xử lý khác nhau. Các phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt được áp dụng phổ biến là vật lý, hóa học, hóa lý. Tuy nhiên, những phương pháp xử lý này đạt hiệu quả không cao và vẫn gây ra ô nhiễm, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường.
Với sự phát triển mạnh công nghệ, khoa học kĩ thuật và khắt khe về về xử lý nước thải, trong những năm gần đây việc tìm ra công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt đạt hiệu quả cao, giá thành rẻ, ít sử dụng hóa chất, có tính sinh thái, thân thiện với môi trường đã trở thành vấn đề cấp thiết. Trước nhu cầu thực tế đó, việc đánh giá chất lượng và xử lý cũng tìm ra giải pháp cho nước thải sinh hoạt đã được tiến hành phổ biến trong các công trình nghiên cứu cấp độ dự án (Dự án hợp tác “ Nghiên cứu xây dựng công nghệ sinh thái xử lý nước thải sinh hoạt” giữa Viện Công nghệ môi trường, Viện Công nghệ hóa học và Viện nghiên cứu quản lý môi trường (Nhật Bản)), cho tới các đề tài nghiên cứu của các cấp khoa học như sau: - Đồ án tốt nghiệp “Thiết kế hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt cho dự án căn hộ chung cư ToKy Tower Quận 12, công suất 384 m3/ngày.đêm” của Nguyễn Đức Kiên thực hiện năm 2016. Luận văn được thực hiện dưới dạng thiết kế công trình xử lý nước thải dựa vào số liệu kế thừa từ các công trình đi trước đã công bố và đã đi vào hoạt động. Bên cạnh đó, tác giả cũng dựa vào các số liệu đo đạc thực tế để xây dựng công trình xử lý nước thải có hiệu quả nhất cho dự án.
Mục tiêu tác giả muốn hướng tới là thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho chung cư ToKy công suất 384 m3/ ngày. Xác định các nguồn gây ô nhiễm và mức độ ô nhiễm của dự án. Thiết kế hệ thống xử lý nước thải nhằm giảm thiểu tác động đến môi trường. Yêu cầu là trước khi thải ra môi trường bên ngoài (cột B, QCVN 14: 2008/ BTNMT).
- Luận văn tốt nghiệp “Thiết kế hệ thống XLNT sinh hoạt cho khu Du lịch sinh thái Suối Nhỏ, Bà Rịa - Vũng Tàu công suất 140 m3/ ngày.đêm” của Nguyễn Lê Thảo Giang thực hiện năm 2016. Luận văn này không đi vào con đường nghiên cứu giải quyết vấn đề mang tầm vóc lớn lao là sự ô nhiễm môi trường tạo ra bởi 7 các hoạt động sinh hoạt mà chỉ là công trình thiết kế quy mô nhỏ, nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường ở địa phương. Mục tiêu tác giả hướng tới là qua khảo sát thực tế về tình hình hoạt động kinh doanh cũng như sản xuất của Khu du lịch này, từ đó biết được mức độ xả thải và việc phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước thải. Nhận thấy việc lắp đặt hệ thống xử lý nước thải cho Khu du lịch là việc thực sự cần thiết, luận văn tiến hành thiết kế hệ thống xử lý nước thải cho Khu du lịch Suối Nhỏ.
Trong quá trình thực hiện, tác giả đã sử dụng các phương pháp như: tổng hợp số liệu, phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước thải, thống kê và xử lý số liệu. - Luận văn Thạc sĩ khoa học “Đánh giá hiện trạng xử lý nước thải của các Khu công nghiệp tỉnh Thái Bình và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Anh thực hiện năm 2013. Bước đầu Luận văn đã nhận được những kết quả tích cực như sau: (1) Đánh giá hiện trạng hoạt động của các khu công nghiệp trên địa bản tỉnh Thái Bình; (2) Xác định các nguồn thải của các nhà máy trong các Khu công nghiệp; (3) Đánh giá hiện trạng ô nhiễm nước thải của các khu công nghiệp; (4) Đánh giá hiện trạng xử lý nước thải của các khu công nghiệp; (5) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý nước thải cho khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh và Phúc Khánh B – Thái Bình. Do khuôn khổ của Luận văn và thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên Luận văn chỉ nêu những đánh giá chung cơ bản về các Khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Thải Bình, và lựa chọn 1 Khu công nghiệp trong tỉnh là Khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh là Khu công nghiệp có tính chất đa ngành nghề mang tính phức tạp nhất để tập trung đánh giá một cách đầy đủ.
Đề tài cũng đề xuất nâng cao hiệu quả xử lý cho những mặt chưa được cho hệ thống xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp này. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Tại trường Đại học Khoa học Địa chất, Bắc Kinh – Trung Quốc nhóm tác giả Qi Yang, Haitao Shang, Jianlong Wang với để tài xử lý nước thải sinh hoạt bằng cách sử dụng màng Bioreactor thực hiện năm 2009. Đề tài đã nghiên cứu thành công phương pháp xử lý nước thải sinh hoạt bằng cách xử dụng màng Bioreactor.