CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Rừng tự nhiên là một dạng tài nguyên thiên nhiên, phương pháp tiếp cận trong quản lý tài nguyên rừng tương tự phương pháp tiếp cận quản lý một số tài nguyên thiên nhiên khác. Quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên là một khái niệm tương đối rộng và đa lĩnh vực. Trong lĩnh vực lâm nghiệp thì quản lý tài nguyên thiên nhiên tập trung vào 3 hợp phần quan trọng là quản lý tài nguyên rừng, quản lý tài nguyên nước và quản lý tài nguyên đất lâm nghiệp; trong đó quản lý tài nguyên rừng là một hợp phần quan trọng.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, sau đây là một vài cách tiếp cận cơ bản: - Quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng - Đồng quản lý tài nguyên thiên nhiên - Quản lý mang tính thích nghi - Quản lý bền vững dựa trên hệ sinh thái 1. Quản lý rừng dựa vào hệ sinh thái - Theo Grumbine (1994): “Quản lý hệ sinh thái liên kết các kiến thức khoa học về mối quan hệ sinh thái trong một khuôn khổ giá trị kinh tế và xã hội nhằm hướng tới mục tiêu chung là bảo vệ sự toàn vẹn của hệ sinh thái trong thời gian dài”. - Hội Sinh thái của Mỹ (1995) hiểu là: “Quản lý hệ sinh thái là sự quản lý có mục đích rõ ràng, được thực hiện bằng những chính sách, nghị định và thực tiễn và thích ứng với việc quan trắc và nghiên cứu dựa trên những hiểu biết về tương tác và quá trình sinh thái cần thiết để duy trì thành phần, cấu trúc và chức năng của hệ sinh thái”. - Bộ Quản lý đất đai của Mỹ (1994) định nghĩa như sau: “Quản lý hệ sinh thái là sự liên kết các nguyên tắc sinh thái, kinh tế và xã hội để quản lý các hệ sinh học và vật lý bằng cách bảo vệ tính bền vững sinh thái dài hạn, đa dạng thiên nhiên, và sản lượng của cảnh quan”.
- Bộ Lâm nghiệp của Mỹ (Thomas, 1996) quan niệm là: “Quản lý hệ sinh thái là sự liên kết các yếu tố sinh thái, kinh tế và xã hội để duy trì và nâng cao chất lượng môi trường nhằm đáp ứng nhu cầu trong hiện tại và tương lai”. PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 5 - Trên quan điểm đó, Hội nghị các bên lần thứ 5 thực hiện Công ước đa dạng sinh học đã đưa ra định nghĩa sau: “Tiếp cận hệ sinh thái được định nghĩa như là một chiến lược để quản lý đất, nước và tài nguyên hữu sinh nhằm thúc đẩy bảo tồn và sử dụng bền vững một cách hài hòa” (Smith and Maltby, 2003). Quản lý rừng đa phương diện Có ba phương diện nói đến trong quản lý rừng đó là: phương diện khoa học kỹ thuật quen thuộc với các cán bộ có nghiệp vụ lâm nghiệp. Phương diện tổ chức, cơ cấu là lĩnh vực của các nhà quản lý; phương diện bản địa là lĩnh vực của người địa phương trong quản lý rừng.
Trước thời kỳ năm 1945, Việt Nam chưa có hình thức sở hữu nhà nước về tài nguyên rừng. Rừng và đất rừng lúc đó thuộc sở hữu tư nhân và cộng đồng thôn bản. Tài nguyên lúc đó còn phong phú, nhu cầu con người chưa vượt quá sự tái tạo của rừng do mật độ dân số thấp, giao thông, đi lại khó khăn, nạn khai thác trong giai đoạn này còn hạn chế do nhu cầu mua bán, xuất khẩu chưa phát triển, từ đó đã cho kết quả độ che phủ rừng lên đến 43%, điều đáng nói hình thức quản lý rừng theo hương ước, thôn bản tồn tại trong một thời gian dài. Sau cải cách ruộng đất giai đoạn 1954 - 1993, Nhà nước khẳng định quyền sở hữu về rừng trong Luật bảo vệ và phát triển rừng đã được Quốc hội thông qua ngày 12/8/1991, trong đó gồm một số nội dung cơ bản liên quan đến quản lý tài nguyên rừng.
Ngoài ra nhà nước đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Tại Quyết định 1171-QĐ về Quy chế quản lý các loại rừng: Sản xuất, phòng hộ, đặc dụng ngày 30/12/1986. Rừng và đất rừng ở Việt Nam được thống nhất chia làm 3 loại: Sản xuất, phòng hộ và đặc dụng. Trong quy định này ghi rõ cơ chế quản lý, quy hoạch 3 loại rừng, chức năng nhiệm vụ của từng loại rừng trong phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường trong cả nước.
Quản lý rừng trên quan điểm giao đất khoán quản lý bảo vệ rừng Nghị định số 02/CP ngày 15 tháng 01 năm 1994 của Chính Phủ về giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, cá nhân, hộ gia đình sử dụng vào mục đích lâm nghiệp. Đây là nghị định đầu tiên của Chính Phủ thực hiện giao đất lâm nghiệp đến nhiều thành phần kinh tế khác nhau, trong đó hộ gia đình, cá nhân cũng được tham gia nhận đất để tổ chức sản xuất lâm nghiệp. Đến năm 1999, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999, mở rộng việc khoán quản lý bảo vệ rừng và đất rừng, quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của người dân nhận đất, nhận rừng. Nghị định số 01/CP ngày 04 tháng 01 năm 1995 của Chính Phủ về giao khoán đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 6 trong các doanh nghiệp nhà nước.
Nghị định này được thực hiện song song với Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp, hiện tại các lâm trường đang thực hiện Nghị định này trong giao khoán đất lâm nghiệp đến hộ gia đình tham gia trồng rừng, sản xuất nông lâm kết hợp trên đất lâm nghiệp với thỏa thuận ăn chia sản phẩm cụ thể; gần đây thực hiện Nghị định 163, đất lâm nghiệp thuộc đối tượng sản xuất sẽ dần được giao cho hộ gia đình, như vậy còn lại đa số diện tích rừng phòng hộ và đặc dụng được thực hiện theo Nghị định 01 là giao khoán đất. Tuy nhiên, các văn bản pháp quy có liên quan đến giao đất, khoán quản lý bảo vệ rừng trong giai đoạn này vẫn chỉ mới thừa nhận vai trò của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình mà chưa quan tâm vai trò của cộng đồng trong việc nhận đất, nhận rừng. Chính sách của Đảng và Nhà nước đang trong quá trình thể chế hóa, từng bước thực hiện phân cấp quản lý tài nguyên rừng, tiếp tục mở ra hướng phát huy vai trò quản lý rừng của cộng đồng, điều này thể hiện rõ trong Luật đất đai năm 2003, “Cộng đồng thôn bản được công nhận là đối tượng được giao đất”, tuy vậy trong Luật dân sự năm 1995 và Luật Đất đai năm 2003 thì cộng đồng dân cư thôn không thuộc phạm vi điều chỉnh của đối tượng đất rừng phòng hộ, đất rừng sản xuất và đất rừng đặc dụng. Để tạo cơ sở pháp lý cho các đối tượng tham gia quản lý tài nguyên rừng, Luật bảo vệ và phát triển rừng sửa đổi năm 2004 đã quy định rõ về quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng và nghĩa vụ của các chủ rừng, đồng thời đã đề cao trách nhiệm của chủ rừng đối với rừng đã được giao, được thuê, rừng trồng thuộc quyền sở hữu của mình.
Đây chính là động lực thúc đẩy các chủ rừng yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, bảo vệ và phát triển rừng. Góp phần trong công cuộc phục hồi tài nguyên rừng, bên cạnh những chính sách mới được nhà nước điều chỉnh nhằm xây dựng phục hồi và phát triển vốn rừng từ các chương trình dự án như: Chương trình 327 phủ xanh đất trống đồi núi trọc, Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, Chương trình ĐCĐC. Ngành Lâm nghiệp cũng đã được nhiều tổ chức quốc tế tài trợ tập trung trong lĩnh vực trồng rừng, phát triển nguồn năng lực, các dự án bảo vệ tài nguyên thiên nhiên WWF, PAM, dự án Hành lang xanh, dự án SNV. đã góp phần tăng độ che phủ, mục tiêu đạt tới độ che phủ trong toàn lãnh thổ là 43% bằng với thời kỳ năm 1943.
Với định hướng xây dựng và phát triển vốn rừng theo Chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020, chăm sóc nuôi dưỡng rừng có một vị trí hết sức quan trọng không chỉ cho rừng trồng mà cho cả đối tượng rừng tự nhiên hỗn loài khác tuổi nhằm góp phần đưa rừng và nghề rừng ở Việt Nam trở thành một ngành kinh tế có vị trí xứng đáng trong nền kinh tế hội nhập khi đất nước ta gia nhập tổ chức WTO. Với mục tiêu tổng quát đến năm 2020: Ngành lâm nghiệp quản lý, bảo vệ, sử dụng và phát PDF Watermark Remover DEMO : Purchase from www.com to remove the waterma 7 triển bền vững ba loại rừng để có những đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội quốc gia, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học và cung cấp các dịch vụ môi trường, góp phần nâng cao đáng kể mức sống cho người dân nông thôn, đồng thời đảm bảo có sự tham gia rộng rãi hơn và có lợi ích thỏa đáng hơn cho tất cả các chủ thể thuộc khu vực nhà nước và khu vực tư nhân, bao gồm các hộ gia đình, cộng đồng nông thôn, đồng bào các dân tộc ít người và phụ nữ - tham gia sản xuất, kinh doanh và chế biến lâm sản. Ngành lâm nghiệp có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sinh thái và giảm thiểu thiên tai một cách có hiệu quả như phòng chống lũ lụt, chống xói mòn, giữ nước, phòng hộ ven biên chống sóng, bão và cát bay, bảo vệ môi trường cho các đô thị và khu công nghiệp, cung cấp các dịch vụ môi trường khác nhằm giảm thiểu khí thải CO2. Ngành lâm nghiệp bao gồm các dịch vụ môi trường và công nghiệp chế biến lâm sản, về cơ bản sẽ đáp ứng nhu cầu về gỗ và lâm sản ngoài gôc cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đống góp nhiều hơn cho tăng trưởng kinh tế đất nước.
Quản lý rừng cộng đồng Các hình thức quản lý rừng trực tiếp bởi cộng đồng đã xuất hiện từ lâu đời trong các cộng đồng dân tộc khác nhau ở Việt Nam.