Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của chính sách kinh tế về bảo vệ môi trường. Một số khái niệm cơ bản về nước thải công nghiệp và chính sách kinh tế về bảo vệ môi trường 1. Một số khái niệm về nước thải công nghiệp a.
Theo từ điển bách khoa Việt Nam Nước thải công nghiệp là nước bị thải loại ra môi trường sau khi đã qua sử dụng trong sản xuất công nghiệp với các mục đích khác nhau như làm lạnh, sản xuất, vệ sinh… b. Theo lĩnh vực công nghệ: Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ sản xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghệ hoặc hoạt động sinh hoạt của công nhân. Theo Luật bảo vệ môi trường. - Theo QCVN 40:2011/BTNMT - Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp thì nước thải công nghiệp như sau: “Nước thải phát sinh từ quá trình công nghệ của cơ sở sản xuất, dịch vụ công nghiệp (sau đây gọi chung là cơ sở công nghiệp), từ nhà máy xử lý nước thải tập trung có đấu nối nước thải của cơ sở công nghiệp.
- Theo Khoản 2, Điều 2, Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2016 của Chính phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải quy định: “Nước thải công nghiệp là nước thải từ: cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến nông sản, lâm sản, thủy sản; cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến thực phẩm, rượu, bia, nước giải khát, thuốc lá; cơ sở chăn nuôi, giết mổ gia súc, gia cầm tập trung; cơ sở nuôi trồng thủy sản; cơ sở sản xuất thủ công nghiệp trong các làng nghề; cơ sở thuộc da, tái chế da; cơ sở khai thác, chế biến khoáng sản; cơ sở dệt, nhuộm, may mặc; cơ sở sản xuất giấy, bột giấy, nhựa, cao su; cơ sở sản xuất phân bón, hóa chất, dược phẩm, thuốc bảo vệ thực vật, vật liệu xây dựng, văn phòng phẩm, đồ gia dụng; cơ sở cơ khí, luyện kim, gia công kim loại, c 5 chế tạo máy và phụ tùng; cơ sở sản xuất linh kiện, thiết bị điện, điện tử; cơ sở sơ chế phế liệu, phá dỡ tàu cũ, vệ sinh súc rửa tàu; nhà máy cấp nước sạch; hệ thống xử lý nước thải tập trung khu công nghiệp; cơ sở sản xuất khác”(Chính phủ, 2016). Đặc điểm nước thải công nghiệp Hiện nay người ta quan tâm nhiều tới 3 nguồn nước thải chính là nguồn nước thải bệnh viện, nguồn nước thải công nghiệp và nguồn thải sinh hoạt. Đặc biệt nguồn nước thải công nghiệp là một thách thức lớn cho hệ thống sông hồ của nhiều nước trên thế giới và nhất là ở Việt Nam do những đặc tính độc hại của nó đối với môi trường. Đặc điểm nguồn nước thải công nghiệp chứa nhiều hoá chất độc hại (kim loại nặng như Hg, As, Pb, Cd,…); các chất hữu cơ khó phân huỷ sinh học (phenol, dầu mỡ.); các chất hữu cơ dễ phân huỷ sinh học từ cơ sở sản xuất thực phẩm.
Tuy nhiên nước thải công nghiệp không có đặc điểm chung mà thành phần tính chất tuỳ thuộc vào quá trình sản xuất cũng như quy mô xử lý nước thải. Nước thải của các cơ sở chế biến lương thực thực phẩm có chứa nhiều chất phân huỷ sinh học; trong khi nước thải công nghiệp lại chứa nhiều kim loại nặng… (Lương Văn Hinh, 2015). Từ các khái niệm, nhận định nêu trên đều cho thấy nước thải công nghiệp là nước thải ra từ các cơ sở sản xuất kinh doanh. Trong nước thải công nghiệp có chứa các chất ô nhiêm hữu cơ, vô cơ, kim loại nặng… như: BOD, COD, chất rắn lơ lửng, sắt, đồng, mangan, thủy ngân, chì, asen, cadimi, dầu mỡ… với nồng độ ô nhiễm ở các mức độ khác nhau (Theo QCVN 40:2011/BTNMT có 33 thông số ô nhiễm đặc trưng trong nước thải công nghiệp).
Nếu các nguồn nước thải công nghiệp ở các lĩnh vực sản xuất không được xử lý hoặc xử lý không đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường mà thải ra môi trường thì sẽ gây ảnh hưởng, suy thoái, ô nhiễm các nguồn tiếp nhận là hệ thống sông, suối, ao, hồ…, gián tiếp ảnh hưởng đến chất lượng nước ngầm, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây mất mỹ quan và hủy hoại các hệ sinh thái. Một số khái niệm về các chính sách kinh tế trong bảo vệ môi trường. Chính sách kinh tế về bảo vệ môi trường là hệ thống các chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong của hoạt động các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường. c 6 Các chính sách kinh tế về bảo vệ môi trường rất đa dạng, trong đó các chính sách kinh tế trong quản lý môi trường thường được sử dụng gồm: Thuế tài nguyên; thuế và phí môi trường; Giấy phép chất thải (có thể mua bán được) hay "cota ô nhiễm"; quỹ bảo vệ môi trường; đặt cọc-hoàn trả; ký quỹ môi trường; trợ cấp môi trường… a.
Thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là sắc thuế áp dụng cho tất cả các cá nhân, tổ chức có khai thác tài nguyên thuộc diện chịu thuế tài nguyên theo quy định pháp luật của một quốc gia. Thuế tài nguyên thường bao gồm một số loại sau: Thuế sử dụng đất; thuế sử dụng nước; thuế khai thác tài nguyên khoáng sản (trong đó, tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước và khoáng sản cũng được coi là một dạng thuế tài nguyên); thuế tài nguyên rừng, thuế tài nguyên biển… Ngoài ra, theo Luật Thuế tài nguyên năm 2009 thì đối tượng chịu thuế tài nguyên gồm: Khoáng sản kim loại; Khoáng sản không kim loại; Dầu thô; Khí thiên nhiên, khí than; Sản phẩm của rừng tự nhiên, trừ động vật; Hải sản tự nhiên, bao gồm động vật và thực vật biển; Nước thiên nhiên, bao gồm nước mặt và nước dưới đất; Yến sào thiên nhiên; Tài nguyên khác do Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định. Thuế/Phí môi trường - Theo quy định tại Luật Thuế Bảo vệ môi trường 2010 thì thuế bảo vệ môi trường được hiểu như sau: Thuế bảo vệ môi trường là loại thuế gián thu, thu vào sản phẩm, hàng hóa (sau đây gọi chung là hàng hóa) khi sử dụng gây tác động xấu đến môi trường. Hay nói theo cách khác thì thuế môi trường là khoản thu của ngân sách nhà nước, nhằm điều tiết các hoạt động có ảnh hưởng tới môi trường và kiểm soát ô nhiễm môi trường.
Theo Điều 148 Luật bảo vệ môi trường 2014 thì phí bảo vệ môi trường được hiểu như sau: Phí bảo vệ môi trường là khoản phí mà tổ chức, cá nhân phải trả do hoạt động của họ hoặc sản phẩm họ dùng có ảnh hưởng bất lợi cho môi trường, làm phát sinh tác động xấu đối với môi trường. Nhà nước sẽ dùng khoản phí này vào việc bảo vệ, cải thiện môi trường. c 7 Có thể nói, thuế/phí bảo vệ môi trường là một trong những chính sách kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền”. Thuế/phí môi trường có hai mục đích chủ yếu là: khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất gây ô nhiễm thải ra môi trường và là nguồn thu của ngân sách để phục vụ cho hoạt động bảo vệ, cải thiện và xử lý ô nhiễm môi trường.
Một số chính sách kinh tế khác Một số chính sách kinh tế khác trong quản lý môi trường gồm: Quỹ bảo vệ môi trường; Đặt cọc và hoàn trả; Ký quỹ môi trường; Trợ cấp môi trường; Giấy phép môi trường. Cơ sở lý luận của chính sách kinh tế trong quản lý môi trường 1. Chính sách kinh tế trong quản lý môi trường Trong thập niên 70-80 của thế kỷ trước (thế kỷ 20), nhiều quốc gia nước trên thế giới đã bắt đầu xây dựng và áp dụng các chính sách, công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, đặc biệt là quản lý môi trường không khí, môi trường nước, môi trường đất… Đến nay, các loại công cụ này đã, đang được hoàn thiện và tiếp tục được sử dụng rộng rãi ở các cấp độ khác nhau từ quy mô vùng lãnh thổ, quốc gia đến địa phương nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường và sử dụng bền vững các nguồn tài nguyên. Chính sách kinh tế trong quản lý môi trường là hệ thống các chính sách, công cụ được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường.
Chính sách kinh tế có thể tác động trực tiếp vào các nhà sản xuất, kinh doanh dưới dạng thuế, phí môi trường hoặc phí xả thải hoặc vào người sử dụng dưới dạng phí sử dụng. Trong tất cả các trường hợp đó chính sách kinh tế trong quản lý môi trường đều có mục đích chung là hạn chế lượng chất thải phát sinh và giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài nguyên và năng lượng. Việc sử dụng chính sách kinh tế để kích thích các chủ thể hoạt động có lợi cho môi trường theo 2 nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền và người gây ô nhiễm phải trả tiền. c 8 Chính sách kinh tế trong quản lý môi trường Kiểm soát ô nhiễm Quản lý tài nguyên Thuế/phí Phí Thuế/phí Phí môi trường người sử dụng tài nguyên người sử dụng Tác động Bồi hoàn chi Tác động Bồi hoàn chi khuyến khích phí khuyến khích phí Hình 1.
Sơ đồ mục đích áp dụng các chính sách kinh tế trong quản lý môi trường 1. Phân loại chính sách kinh tế Việc phân loại các chính sách, công cụ kinh tế có thể thực hiện bằng cách xác định cách thức áp dụng công cụ. Ví dụ, các chính sách được áp dụng trực tiếp đối với chất thải ô nhiễm (thuế/phí ô nhiễm dựa trên khối lượng chất ô nhiễm hoặc phí chất thải đánh vào khối lượng chất thải phát sinh) hay gián tiếp thông qua các sản phẩm sản xuất ra hay các đầu vào (thuế/phí môi trường đánh vào các sản phẩm như bao bì, lốp, ắc qui hay các đầu vào như xăng dầu, phân bón, thuốc trừ sâu. Thuế là khoản thu cho ngân sách, dùng để chi cho mọi hoạt động của nhà nước.
Thuế môi trường nói chung hay thuế ô nhiễm môi trường nói riêng đều do nhà nước định ra, thu về cho ngân sách, dùng để chi chung, không chỉ chi riêng cho công tác bảo vệ môi trường.