Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Chất thải rắn sinh hoạt và môi trường 1. Khái niệm chất thải rắn Theo quan niệm chung: Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế, xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng. Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và các hoạt động sống (Trần Hiếu Nhuệ và CS, 2001) [7].
Theo quan niệm mới: Chất thải rắn đô thị được định nghĩa: Vật chất mà người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thị mà không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó. Thêm vào đó chất thải được coi là chất thải rắn đô thị nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ mà thành phố phải có trách nhiệm thu gom và tiêu huỷ (Trần Hiếu Nhuệ và CS, 2001) [7]. Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt Theo bản chất nguồn tạo thành, chất thải rắn được phân thành bốn loại: Chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp, chất thải rắn xây dựng và chất thải nông nghiệp. Trong đó chất thải rắn sinh hoạt là những chất thải liên quan đến những hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ thương mại.
Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su, chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ, lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v… Theo phương diện khoa học, có thể phân biệt các loại chất thải rắn sinh hoạt như sau: 4 n 5 - Chất thải thực phẩm bao gồm các thức ăn thừa, rau quả… loại chất thải này mang bản chất dễ bị phân huỷ sinh học, quá trình phân huỷ tạo ra các mùi khó chịu, đặc biệt trong thời tiết nóng, ẩm. Ngoài các loại thức ăn dư thừa từ gia đình còn có thức ăn dư thừa từ các bếp ăn tập thể, các nhà hàng, khách sạn, ký túc xá, chợ… - Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm phân người và phân của các động vật khác. - Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu vực sinh hoạt của dân cư. - Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: các loại vật liệu sau đốt cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất dễ cháy khác trong gia đình, trong kho của công sở, cơ quan, xí nghiệp, các loại xỉ than.
- Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que, củi, nilon, vỏ bao gói…. Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt trong các đô thị ngày càng tăng do tác động của sự gia tăng dân số, phát triển kinh tế xã hội và sự phát triển về trình độ và tính chất tiêu dùng trong các đô thị. Lượng chất thải rắn sinh hoạt nếu không được quản lý tốt sẽ dẫn đến hàng loạt hậu quả tiêu cực đối với môi trường sống. 5 n 6 Chất thải rắn sinh hoạt Bụi, CH4, NH3, Chất thải rắn + nước rỉ rác VOCs Môi trường Môi trường Môi trường không khí nước đất Ăn uống, tiếp Qua xúc qua da Mỹ quan Du lịch hô Qua chuỗi đô thị hấp thức ăn Con người Hình 1.
Tác động của chất thải rắn sinh hoạt đến môi trường và con người Nguồn: (Hoàng Lê Phương, 2006) [10] 1. Tình hình quản lý chất thải rắn đô thị ở Việt Nam Ở Việt Nam hàng năm lượng chất thải rắn phát sinh khoảng 15 triệu tấn mỗi năm, trong đó chất thải sinh hoạt từ các hộ gia đình, nhà hàng, khu chợ và kinh doanh chiếm 80% tổng lượng chất thải phát sinh trong cả nước. Các khu đô thị dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm trong đó chất thải rắn sinh hoạt chiếm 60 ÷ 70%, một số đô thị 90% là chất thải rắn sinh hoạt. Theo số liệu thống kê đến năm 2004 lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân 0,9÷1,2 kg/người/ngày ở các thành phố lớn, 0,5 ÷ 0,65kg/người/ngày ở các đô thị nhỏ.
Hoạt động thu gom chất thải rắn sinh hoạt ở các thành phố đang được cải thiện nhưng ở vùng nông thôn còn rất hạn chế. Tỷ lệ thu gom ở các đô thị 6 n 7 trong nước trung bình đạt khoảng 71% và đang tăng dần từ năm 2000. Nhìn chung, các thành phố lớn có tỷ lệ thu gom cao hơn so với các thành phố nhỏ, trong khi ở các vùng nông thôn tỷ lệ thu gom thấp hơn 20%. Hình thức tiêu huỷ chất thải rắn sinh hoạt phổ biến vẫn là đổ thải ở các bãi rác lộ thiên và trong số này có 49 bãi rác được xếp vào số các cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng có khả năng cao gây ra những rui ro cho môi trường và sức khoẻ con người.
Trong số 91 điểm tiêu huỷ chất thải trong cả nước, chỉ có 17 điểm là các bãi chôn lấp hợp vệ sinh mà phần lớn đều được xây dựng bằng nguồn vốn ODA. Ở nhiều vùng, việc áp dụng các phương thức tự tiêu huỷ chất thải như đốt hoặc chôn chất thải, đổ bỏ ra các con sông, kênh rạch và vùng đất trống còn khá phổ biến. Các bãi chôn lấp được vận hành không đúng kỹ thuật và các bãi rác lộ thiên gây ra nhiều vấn đề môi trường cho dân cư quanh vùng như nước rác làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm, các chất ô nhiễm không khí, mùi, ruồi, muỗi, chuột, bọ, ô nhiễm bụi và tiếng ồn làm tăng tỷ lệ người bị mắc bệnh về da, tiêu hoá và hô hấp (Bộ xây dựng và Hiệp hội Môi trường đô thị Việt Nam, 2009) [2]. Tái chế chất thải là phương thức xử lý khá phổ biến ở Việt Nam.
Nhiều hộ gia đình có thói quen chọn các loại chất thải có khả năng tái chế được như kim loại và giấy để bán cho những người thu mua đồng nát hoặc là bán cho các cơ sở thu mua trong vùng. Các loại chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế còn được những người làm nghề thu nhặt rác phân loại và đem bán cho các cơ sở tái chế. Ở Việt Nam, khoảng 32% lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị (tương đương với 2,1 triệu tấn/năm) hiện đang được đem đến các địa điểm tiêu huỷ chất thải tại các khu đô thị, là các chất thải có thể đem tái chế được như giấy, nhựa, kim loại, thuỷ tinh. Nếu tiến hành tái chế với lượng rác thải này thì sẽ giảm một cách đáng kể chi phí tiêu huỷ chất thải và tạo cơ hội cho 7 n 8 người nghèo có thêm nguồn thu từ việc bán các loại phế liệu (Nguyễn Xuân Nguyên và CS, 2004) [8].
Ngoài ra, tỷ lệ chất hữu cơ trong chất thải sinh hoạt cao là yếu tố thuận lợi cho việc thực hiện chế biến chất thải sinh hoạt thành phân compost mà nhờ đó có thể giảm thiểu được chi phí tiêu huỷ nếu như sản xuất được các loại phân compost phù hợp với các điều kiện thị trường. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn chưa được phổ biến rộng rãi do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó bao gồm cả vấn đề chất lượng nguyên liệu đầu vào còn kém và các hoạt động tiếp thị chưa được thực hiện tốt. Cùng với việc phát triển thị trường phân compost và thực hiện thành công phân loại chất thải tại nguồn thì chắc chắn hiệu quả triển khai các cơ sở chế biên phân compost tập trung sẽ tăng lên đáng kể (Bộ xây dựng và Hiệp hội Môi trường đô thị Việt Nam, 2009) [2]. Việt Nam đã có một khung pháp lý khá tốt về bảo vệ môi trường và quản lý chất thải mặc dù vẫn có nhiều rào cản thực hiện hiệu quả khung pháp lý này.
Khung thể chế bao gồm các công ty môi trường đô thị với vai trò là các đơn vị cung cấp dịch vụ quản lý chất thải ở các địa phương. Hệ thống cơ quan quản lý ở cả trung ương và địa phương mà Bộ Tài nguyên và Môi trường là cơ quan giữ vai trò chỉ đạo với trách nhiệm chỉ đạo và giám sát việc thực hiện công tác quản lý chất thải của các cơ sở công nghiệp, bệnh viện và công ty môi trường đô thị. Tuy nhiên vẫn còn những tồn tại yếu kém: - Năng lực và kỹ năng của cán bộ các cơ quan địa phương còn hạn chế - Hiệu lực thi hành các văn bản pháp luật còn chưa hiệu quả - Đầu tư cho hoạt động vận hành còn thiếu là nguyên nhân đe doạ tính bền vững của các khoản đầu tư. - Vai trò của xã hội dân sự trong công tác quản lý chất thải còn hạn chế.
Tính đến ngày 31/12/2010, cả nước có 755 đô thị trong số đó có hai đô thị được xếp vào loại đặc biệt là TP Hà Nội và TP. Trong đó, 10 đô thị 8 n 9 loại 1 gồm TP Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ, TP Huế (tỉnh Thừa Thiên - Huế), Vinh (tỉnh Nghệ An), Đà Lạt (Lâm Đồng), Nha Trang (Khánh Hòa), Quy Nhơn (Bình Định), Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk), Thái Nguyên (tỉnh Thái Nguyên). Có 12 TP thuộc đô thị loại 2, trong đó có TP Việt Trì (tỉnh Phú Thọ), Phan Thiết (Bình Thuận), Biên Hòa (Đồng Nai), Mỹ Tho (Tiền Giang), Cà Mau (tỉnh Cà Mau)… 47 đô thị được xếp loại 3 gồm các thành phố, thị xã. 50 đô thị thuộc loại 4 gồm các thị xã, thị trấn của các tỉnh trong cả nước.
Còn lại là 634 đô thị loại 5, chủ yếu là các thị trấn. Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững. Lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp ngày càng nhiều với thành phần phức tạp.
Lượng chất thải rắn sinh hoạt tại các đô thị ở nước ta đang có xu thế phát sinh ngày càng tăng, tính trung bình mỗi năm tăng khoảng 10%.