Đặt vấn đề Chăm sóc, bảo vệ nâng cao sức khỏe người dân là nhiệm vụ quan trọng của ngành y tế. Nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của người dân, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, hệ thống các cơ sở y tế không ngừng được tăng cường, mở rộng và hoàn thiện. Cùng với đó việc quản, lý xử lý nước thải y tế là vấn đề cần được quan tâm đặc biệt ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Theo thống kê, năm 2012 Việt Nam có khoảng 1186 bệnh viện và hơn 12.569 cơ sở khám chữa bệnh với 187.843 giường bệnh.
Từ năm 1997, các văn bản về quản lý chất thải bệnh viện được ban hành, nhưng hầu hết các bệnh viện nước ta vẫn chưa trang bị các phương pháp xử lý đạt tiêu chuẩn, vẫn còn tình trạng xả thải ra môi trường mà chưa qua quá trình xử lý nào. Nước thải bệnh viện là một trong những mối quan tâm, lo ngại vì chúng có thể gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và nguy hại đến đời sống con người. Điều quan tâm hàng đầu đối với nước thải của các bệnh viện là các vấn đề vi trùng gây bệnh và thuốc kháng sinh, thuốc sát trùng. Ngoài ra, các chất kháng sinh và thuốc sát trùng xuất hiện cùng với dòng nước thải sẽ tiêu diệt các vi khuẩn có lợi và có hại gây ra sự phá vỡ hệ cân bằng sinh thái trong hệ các vi khuẩn tự nhiên của môi trường nước thải, làm mất khả năng xử lý nước thải của vi sinh vật nói chung.
Các vi trùng gây bệnh có thể tồn tại trong một thời gian nhất định ngoài môi trường, khi có cơ hội nó sẽ phát triển trên một vật chủ khác và đó chính là hiện tượng lây lan các bệnh truyền nhiễm. Đây chính là điểm khác biệt của nước thải bệnh viện so với các loại nước thải khác [5]. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng nay thuộc phường Tân Giang thành phố Cao Bằng là bệnh viện hạng II, có diện tích 33.462m2, có 500 giường bệnh, lưu lượng người đến khám từ 150 - 300 người /ngày, vào điều trị trung bình khoảng 20 - 50 người/ngày, do đó lượng nước thải phát sinh trong quá trình khám, chữa bệnh tương đối lớn. n 2 Xuất phát từ thực trạng trên em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá hiện trạng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng”.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Tìm hiểu về bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng. - Đánh giá ảnh hưởng của nước thải bệnh viện đến môi trường xung quanh - Đánh giá hiện trạng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng. - Đề xuất một số giải pháp 1. Yêu cầu của đề tài - Số liệu thu thập phải phản ánh trung thực, khách quan - Kết quả phân tích phải chính xác.
- Những kiến nghị đưa ra phải khả thi phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương. Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: + Đánh giá thực trạng chất lượng nước thải của bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng. + Tạo cho sinh viên cơ hội vận dụng lý thuyết vào thực tiễn + Nâng cao kiến thức, kỹ năng tổng hợp phân tích số liệu và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này. - Ý nghĩa trong thực tiễn + Đánh giá được lượng nước thải phát sinh, tình hình thu gom và xử lý nước thải bệnh viện Đa khoa tỉnh Cao Bằng.
+ Đề xuất một số giải pháp khả thi giúp cho công tác thu gom và xử lý nước thải y tế một cách phù hợp và khoa học với điều kiện của bệnh viện nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2. Cơ sở lý luận Khái niệm về môi trường và ô nhiễm môi trường * Khái niệm về môi trường: Theo Điều 1, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: môi trường tự nhiên, môi trường nhân tạo, môi trường xã hội. Tóm lại, môi trường là tất cả những gì xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. * Khái niệm về ô nhiễm môi trường: Theo Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam: “Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm tiêu chuẩn môi trường”. Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường.
Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn), chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ [13]. * Khái niệm về ô nhiễm môi trường nước Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và chất lượng nước không đáp ứng cho các mục đích sử dụng khác nhau, vượt quá chỉ tiêu cho phép và có ảnh hưởng xấu đến đời sống con người và sinh vật. Nước trong tự nhiên tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau: nước ngầm, nước ở các sông, hồ, tồn tại ở thể hơi trong không khí… Nước ô nhiễm nghĩa là thành phần của nó tồn tại các chất khác, các chất này có thể gây hại cho con người và cuộc sống các vi sinh vật trong tự nhiên. Nước ô nhiễm thường khó khắc phục mà phải phòng tránh từ đầu [13].
n 4 Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa: “Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm tới con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã’’ [6]. Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên: Do mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và các vi sinh vật có hại kể cả xác chết của chúng. Ô nhiễm nước có nguồn gốc nhân tạo: quá trình thải các chất độc hại chủ yếu dưới dạng lỏng như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp, giao thông và môi trường nước. Theo bản chất các tác nhân gây ô nhiễm, người ta phân ra các loại ô nhiễm nước: ô nhiễm vô cơ, hữu cơ, ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học, ô nhiễm bởi các tác nhân vật lý.
* Khái niệm về nước thải và phân loại nước thải - Khái niệm về nước thải: Theo tiêu chuẩn Việt Nam 5980- 1995 và ISO 6107/1- 1980: Nước thải là nước được thải ra sau khi đã sử dụng hoặc được tạo ra trong một quá trình công nghệ và không còn giá trị trực tiếp đối với quá trình đó Người ta còn định nghĩa nước thải là chất lỏng được thải ra sau quá trình sử dụng của con người và đã bị thay đổi tính chất ban đầu của chúng [8]. - Phân loại nước thải: Thông thường nước thải được phân loại theo nguồn gốc phát sinh. + Nước thải sinh hoạt: Là nước thải từ các khu dân cư, khu vực hoạt động thương mại, khu vực công sở, trường học và các cơ sở trường học khác. + Nước thải công nghiệp: Là nước thải từ các nhà máy đang hoạt động hoặc trong đó nước thải công nghiệp là chủ yếu.
+ Nước thải thấm qua: Là lượng nước thấm vào hệ thống ống bằng nhiều cách khác nhau, qua các lớp nối, các ống có khuyết tật hoặc thành hố ga hay hố xí. + Nước thải tự nhiên: nước mưa được xem như nước thải tự nhiên ở những thành phố hiện đại, chúng được thu gom theo hệ thống riêng. n 5 + Nước thải đô thị: là một thuật ngữ chỉ chất lỏng trong hệ thống cống thoát của một tỉnh, thành phố, đó là hỗn hợp của các loại nước thải trên [8]. những kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này.
Cơ sở pháp lý - Luật bảo vệ môi trường năm 2005 - Luật tài nguyên nước năm 2012 - Nghị định số 149/2004/NĐ- CP ngày 27/7/2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước. - Nghị định số 34/2005/NĐ- CP ngày 17/02/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước. - Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ về xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. - Thông tư số 02/2005/TT- BTNMT ngày 24 tháng 05 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn việc thực hiện Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 07 năm 2004 của Chính phủ quy định về việc cấp phép thăm dò, khai khác sử dụng tài nguyên nước.
- Quy định số 153/2006/QĐ- TTg ngày 30/06/2006 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoặch tổng thể phát triển hệ thống Y tế Việt Nam giai đoạn 2010, tầm nhìn đến 2020. - Quyết định số 81/2006/QĐ- TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020. - QCVN 28:2010/BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nước thải y tế. Tổng quan về tài nguyên nước trên thế giới và Việt Nam 2.
Tài nguyên nước trên thế giới Trên hành tinh chúng ta nước tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau: Trên mặt đất, trong biển và đại dương, dưới đất và trong không khí dưới các dạng: Lỏng (nước sông, suối, ao, hồ, biển), khí (hơi nước), và rắn (băng, tuyết). Lượng nước trong thủy quyển theo UNESCO công bố là 1386. Trong đó nước ngọt là 35,106km3 chiếm 2,5%, nước mặt là 1351.106km3 chiếm 97,5% tổng lượng nước trong thủy quyển. n 6 Trong thành phần nước ngọt thì dạng rắn chiếm 24,3.106km3 (69,4%), dạng lỏng là 10,7.
Trong thành phần nước lỏng 10,7.106km3 (100%) thì nước ngầm chiếm đại bộ phận 10,5.106km3 (98,3%), khí quyển 0,020.106km3 (0,19%) và sinh quyển 0,011. Sự phân bố lượng nước trên trái đất không đều tại các đại dương, biển và lục địa: Bảng 2.1: Sự phân bố nước trên trái đất Thái bình Lưu vực nội Tổng diện tích Đại tây dương dương địa của đất Vùng phân bố (Lục Dòng Dòng Dòng Dòng địa hay vùng) F.