MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Môi trường trở thành vấn đề chung của nhân loại, được toàn thế giới quan tâm. Nằm trong khung cảnh của Thế giới, môi trường Việt Nam đang xuống cấp cục bộ, có nơi bị hủy hoại nghiêm trọng nguy cơ gây nên mất cân bằng sinh thái, sự cạn kiệt các nguồn tài nguyên làm ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và phát triển bền vững của đất nước. Trong đó chất lượng môi trường tại các vùng kinh tế phía Bắc đang làm một trong những vấn đề được quan tâm.
Thị xã Sơn Tây là cửa ngõ phía Tây của Thủ đô Hà Nội với toạ độ địa lý 210 vĩ Bắc và 1050 kinh Đông, cách trung tâm Hà Nội 42 km về phía Tây Bắc, nằm trong vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ, là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội của cả vùng, có nhiều đường giao thông thuỷ, bộ nối với trung tâm Thủ đô Hà Nội, các vùng đồng bằng Bắc Bộ, với vùng Tây Bắc rộng lớn của Tổ quốc như: Sông Hồng - Sông Tích, đường Quốc lộ 32, Quốc lộ 21A, đường tỉnh lộ 414, 413… Thị xã Sơn Tây có tổng diện tích tự nhiên là 113,46 km2, dân số khoảng 18 vạn người, được chia làm 15 đơn vị hành chính gồm 09 phường, 06 xã, có 53 cơ quan, doanh nghiệp, bệnh viện, trường học và 30 đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn. Những năm trở lại đây hòa nhịp với sự phát triển chung của đất nước, sự phát triển của thị xã Sơn Tây diễn ra khá nhanh. Cùng với sự tăng dân số là những tác động tích cực đến phát triển kinh tế - xã hội đồng thời cũng gây ra những áp lực rất lớn đến môi trường. Trong các vấn đề môi trường hiện nay của thị xã thì vấn đề môi trường nước mặt là một trong những vấn đề thu hút rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan quản lý và người dân.
h 2 Xuất phát từ hiện trạng môi trường trên và yêu cầu thực tế về đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt của thị xã, từ đó đưa ra các giải pháp góp phần giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện chất nượng môi trường nước mặt tại huyện trong thời gian tới. Vì thế tôi làm đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt trên địa bàn thị xã Sơn Tây năm 2018 và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường” 1. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá hiện trạng môi trường nước mặt trên địa bàn thị xã Sơn Tây năm 2018 và đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường. - Xác định các tác động đến môi trường nước mặt trên các ao hồ của thị xã Sơn Tây.
- Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện môi trường nước mặt tại các ao hồ trên địa bàn thị xã Sơn Tây. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Vận dụng những kiến thức đã học trong nhà trường vào thực tế, rèn luyện khả năng tổng hợp phân tích số liệu. - Là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm trong công tác quản lý.
- Góp phần đánh giá chất lượng nước các ao hồ trên địa bàn thị xã Sơn Tây, chỉ ra những vị trí ô nhiễm, để có những biện pháp xử lý phù hợp cho từng mục đích sử dụng. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài - Kết quả của đề tài là cơ sở giúp các cơ quan quản lý về môi trường đưa ra các biện pháp xử lý cũng như quản lý nhằm nâng cao chất lượng nước mặt thị xã Sơn Tây. - Góp phần đánh giá chất lượng nước các ao hồ trên địa bàn thị xã Sơn Tây, chỉ ra những vị trí ô nhiễm, để có những biện pháp sử lý phù hợp cho từng mục đích sử dụng. h 3 - Đánh giá thực trạng môi trường nước mặt xung quanh các ao hồ thị xã Sơn Tây, chỉ ra được những vị trí ô nhiễm.
Từ đó đề xuất ra được một số giải pháp về quản lý nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý. - Nâng cao nhận thức, tuyên truyền và giáo dục bảo vệ môi trường cho cộng đồng dân cư. h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Cơ sở lý luận Bảo vệ môi trường hiện nay đang là vấn đề nóng của toàn cầu, không chỉ là sự quan tâm của các nhà khoa học mà còn của tất cả người dân. Nguồn nước bị ô nhiễm là vecter lan truyền ô nhiễm và là một trong các nguyên nhân gây ra nhiều bệnh tật cho con người. Cuộc sống con người trở nên khó khăn khi môi trường nước bị suy giảm. Công tác đánh giá hiện trạng môi trường bắt đầu từ những năm cuối thập kỷ 70.
Nó thể hiện bằng việc lập báo cáo hiện trạng môi trường hàng năm nhằm đáp ứng mối quan tâm của xã hội về chất lượng của môi trường và việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên. Ở Việt Nam công tác đánh giá hiện trạng môi trường được bắt đầu thực hiện từ năm 1994, cho đến nay các địa phương đều phải thực hiện công tác này. Trong đó đánh giá hiện trạng tài nguyên nước là quá trình hoạt động nhằm xác định chất lượng và tình hình sử dụng và bảo vệ, tìm ra các nguyên nhân gây ra những ảnh hưởng tiêu cực. Một số khái niệm cơ bản - Khái niệm môi trường: Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người và có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật.[5] - Chức năng của môi trường: + Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật + Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người.
h 5 + Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất. + Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người. Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường. Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức năng sử dụng của các loại không gian khác như khai hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới.
Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không gian sống mất đi khả năng tự phục hồi.[3] - Khái niệm ô nhiễm môi trường: Theo khoản 8 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt Nam 2014: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.[9] Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khỏe conNngười, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm bao gồm các chất thai ở dạng khí ( khí thải) lỏng (nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hóa chất hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng như nhiệt độ, bức xạ. Tuy nhiên môi trường chỉ bị coi là ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân đặt đến mức có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu. - Tiêu chuẩn môi trường: Theo Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam: “ Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mực, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường.
[9] Vì vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Hệ thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình h 6 khoa học liên ngành, nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ, tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế- xã hội có tính đến dự báo phát triển. - Khái niệm Quan trắc môi trường: Là quá trình đo đạc thường xuyên một hoặc nhiều chỉ tiêu về tính chất vật lý, hoá học và sinh học của môi trường, theo một kế hoạch lập sẵn về thời gian, không gian, phương pháp và quy trình đo lường, để cung cấp các thông tin cơ bản có độ tin cậy, độ chính xác cao và có thể đánh giá đựơc diễn biến chất lựơng môi trường nước. - Khái niệm Quy chuẩn kỹ thuật môi trường: Theo khoản 5 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường Việt năm 2014: “Quy chuẩn kỹ thuật môi trường là mức giới hạn của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, hàm lượng của các chất gây ô nhiễm có trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành dưới dạng văn bản bắt buộc áp dụng để bảo vệ môi trường”.[9] - Khái niệm ô nhiễm môi trường nước [7] Ô nhiễm môi trường nước là sự biến đổi nói chung do tác động của con người đối với chất lượng nước làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho động vật nuôi và các loài hoang dã, ảnh hưởng tới sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá.
Như vậy, sự ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi thành phần và tính chất của nước gây ảnh hưởng đến hoạt động sống bình thường của con người và sinh vật. Khi sự thay đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá một ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh cho người. Hiến chương châu Âu đã có định nghĩa ô nhiễm nước như sau: “sự ô nhiễm nước là một biến đổi chủ yếu do con người gây ra đối với chất lượng nước, làm ô nhiễm nước và gây nguy hại cho việc sử dụng, cho công nghiệp, h 7 nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi- giải trí, cho động vật nuôi cũng như các loại hoang dã” * Phân loại ô nhiễm nước Có nhiều cách phân loại ô nhiễm nước như dựa vào nguồn gốc ô nhiễm, gồm: ô nhiễm do hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt. Dựa vào môi trường ô nhiễm, gồm: ô nhiễm nước ngọt, ô nhiễm biển và đại dương.
Dựa vào tính chất của ô nhiễm, gồm: ô nhiễm vật lý, hóa học hay sinh họ - Ô nhiễm vật lý: Các chất rắn không tan khi được thải vào nước làm tăng lượng chất lơ lửng, tức làm tăng độ đục của nước. Các chất này có thể là gốc vô cơ hay hữu cơ.