Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên quý giá, là một bộ phận quan trọng của môi trường sống, đặc biệt là luôn gắn liền với đời sống của đồng bào các dân tộc miền núi. Rừng không chỉ có giá trị về kinh tế mà còn có ý nghĩa rất lớn trong nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, bảo tồn đa dạng sinh học, điều hoà khí hậu, phòng hộ đầu nguồn, hạn chế thiên tai, ngăn chặn sự hoang mạc hoá, chống sói mòn, sạt lở đất, ngăn ngừa lũ lụt, đảm bảo an ninh quốc phòng, đồng thời rừng cũng tạo cảnh quan phục vụ cho du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng. Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh vật cao với khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao cũng như sự phong phú trong việc sử dụng các lòai cây cỏ vào nhiều mục đích khác nhau trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là các dân tộc tại những vùng rừng núi. Công tác bảo tồn tài nguyên thực vật hoang dại hữu ích đã được quan tâm rất sớm ở Việt Nam, tuy nhiên còn chưa đáp ứng được yêu cầu.
Thực tế trong nhiều năm qua hầu hết các hoạt động bảo tồn mới chỉ tập trung vào một số vấn đề của khía cạnh tự nhiên như đa dạng sinh học, điều tra phân bố, sinh trưởng, khả năng nhân giống phục vụ công tác bảo tồn, vv…của một số loài chủ yếu có ý nghĩa trong đa dạng sinh học cũng như phục vụ trong sử dụng làm dược liệu. Còn ít các nghiên cứu về điều kiện sinh thái, trữ lượng, khả năng gây trồng của các loài cây hoang dại làm thực phẩm, làm gia vị, nhất là chưa có nhiều quan tâm đến các khía cạnh xã hội, nhân văn, chưa huy động được sự tham gia của các cộng đồng địa phương. Về phương pháp nghiên cứu còn cần được tiếp tục tìm tòi và thử nghiệm. Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể là một trong những di sản thiên nhiên quý giá ở nước ta, có cảnh đẹp và còn nhiều giá trị bảo tồn lôi cuốn khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm ngày càng tăng.
Hiện trạng tự nhiên là một phức hệ gồm hồ, sông, núi đá vôi từ dốc vừa đến dốc đứng, xen giữa có nhiều núi đất tạo nên cảnh quan đa dạng và phong phú. Hồ nằm ở độ cao 150m so với mực nước biển nhưng h 2 Ba Bể bốn mùa đầy nước. Hồ có cấu tạo khá đặc biệt, thắt ở giữa và phình ra ở hai đầu, gồm 3 hồ lớn thông nhau là: Pé Lèng, Pé Lù, Pé Lầm và từ đó mà thành tên Ba Bể. Hồ nhận nước từ hai nguồn chính là sông Tà Han và sông Chợ Lèng.
Hồ còn có chức năng điều tiết, phân nước cho sông Năng vào mùa cạn và như một bể chứa cho sông vào mùa mưa lũ. Chính vì có sự lưu thông với các dòng sông mà nước hồ Ba Bể luôn vận động khiến cho nước hồ sạch và trong xanh. Cộng đồng dân cư tại những khu phục hồi sinh thái, khu vực vùng đệm của Vườn quốc gia, các khu bảo đã sống ở đây từ rất lâu đời và cuộc sống của họ chủ yếu dựa vào rừng và các nguồn tài nguyên thiên nhiên quanh hồ. Phần lớn các hộ gia đình đều thuộc diện đói nghèo (xã Nam Mẫu thuộc diện xã đặc biệt khó khăn nằm trong Chương trình 135 giai đoạn II của chính phủ).
Trong những năm qua, một số hoạt động của các cộng đồng đã xâm hại tài nguyên rừng như đốt nương làm rẫy, săn bắn động vật hoang dã, khai thác gỗ trái phép… thường xuyên xảy ra, đe dọa tới công tác bảo tồn của VQG. Với nhiều chương trình tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phát triển sản xuất từ chính quyền cũng như các tổ chức địa phương, các cộng đồng đã ý thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật và làm tổn hại tới tài nguyên rừng, nhưng vì cuộc sống khó khăn và những đòi hỏi thực tế vẫn còn là những bất cập khiến họ không có nhiều lựa chọn. Đặc biệt, trong thời gian hiện nay khi cơ cở hạ tầng đã được cải thiện đáng kể và các dự án có quan tâm hỗ trợ cho phát triển du lịch Bắc Kạn nói chung và du lịch sinh thái khu vực hồ Ba Bể nói riêng như dự án 3PAD, dự án có nguồn vốn GIZ, dự án có nguồn vốn từ ADB…công tác bảo tồn đã được cải thiện nhiều, gìn giữ được môi trường cảnh quan và do đó lượng khách du lịch tăng rõ rệt. Cũng chính vì vậy, nhu cầu về thực phẩm sạch, tại chỗ, nhất là đặc sản địa phương ngày càng tăng, đòi hỏi có những thay đổi về khả năng cung cấp và cũng là cơ hội để cải thiện đời sống cho các cộng đồng địa phương.
Xuất phát từ thực tế đó, một yêu cầu cấp bách cần đặt ra đối với VQG Ba Bể là cần tìm ra một lựa chọn, một nguồn sinh kế mới cho người dân, từ đó giảm áp lực từ người dân vào tài nguyên rừng và góp phần đảm bảo quản lý rừng bền vững. h 3 Nghiên cứu, tìm hiểu và phát triển gây trồng cây làm thực phẩm và gia vị có giá trị kinh tế cao, nhất là tại thời điểm hiện tại và có triển vọng trong tương lai vốn đã và đang có tại khu vực hồ là một hướng đi đúng đắn và cần thiết. Tuy nhiên, cho tới nay, vấn đề này vẫn chưa thực sự được chú trọng, phần lớn người dân vẫn vào rừng thu hái các loài cây thực vật rừng tự nhiên làm thực phẩm và gia vị. Ý thức được phần nào về lợi ích của các loài đó cũng như khả năng đáp ứng từ thiên nhiên ngày một ít đi, một số hộ dân đã tự mày mò gây trồng với quy mô rất nhỏ lẻ, tự phát với nguồn giống, kỹ thuật không phù hợp dẫn tới năng suất thấp, hiệu quả đầu tư chưa cao… Xuất phát từ những lý do thực tế trên, đề tài ”Điều tra đánh giá hiện trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng dùng làm thực phẩm, gia vị tại hai xã thuộc vùng đệm VQG Ba Bể - Huyện Ba Bể - tỉnh Bắc kạn”được thực hiện và thực sự cần thiết nhằm lựa chọn được loài cây, kỹ thuật trồng cây thực vật rừng làm thực phẩm và gia vị có triển vọng đối với khu vực đặc biệt này.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định được các loài thực vật rừng làm thực phẩm và gia vị quan trọng để phát triển nhân rộng và bảo tồn trên cơ sở có sự tham gia của người dân tại VQG Ba Bể-Tỉnh Bắc Kạn; - Xác định được hiện trạng khai thác và sử dụng thực vật rừng làm thực phẩm và gia vị; - Đề xuất được một số giải pháp nhằm phát triển các loại thực vật rừng làm thực phẩm và gia vị. Đối tượng nghiên cứu Các loài cây rừng được dùng làm thức ăn và gia vị phân bố tại VQG Ba Bể 4. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình phát triển cây rừng sử dụng làm thực phẩm và gia vị trên địa bàn thuộc 2 xã: Khang Ninh, Quảng Khê thuộc Vườn Quốc gia Ba Bể, Tỉnh Bắc Kạn. h 4 Phần 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu 2. Cơ sở khoa học Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị đặc biệt quan trọng trong hệ sinh thái rừng, là một hệ sinh thái mà thành phần chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, dây leo, hệ động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (đất đai, nguồn nước, khí hậu,…). Hệ sinh thái rừng như vậy có tính đa dạng sinh học rất cao. LNSG có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với đời sống hang ngày của rất nhiều cộng đồng, đặc biệt là các cây dược liệu và các loài làm thực phẩm, làm gia vị… đã được khai thác, sử dụng nhiều từ thời kỳ cổ đại, trải qua nhiều năm từ thế hệ này sang thế hệ khác, nhiều loại được coi như sản vật quý của đất nước và có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với nhiều cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng các dân tộc ít người ở miền núi.
Một thực tế đặc biệt quan trọng trong thời điểm hiện nay là an toàn thực phẩm, trong đó từ ngữ và khái niệm “rau sạch” đang ngày càng được nhiều người quan tâm và được coi gần như là lẽ sống còn, vì rất nhiều người đang đối mặt hàng ngày vì hệ lụy của “rau không sạch” gây ra. Chính vì vậy, những loại rau rừng như Bồ khai, Rau dớn, Rau sắng, Rau gai…là những loài gần như là đặc hữu có vẻ như rất bình thường trước đây tại các vùng đồi, rừng, ven suối… ở cả vùng đệm và vùng lõi của VQG Ba Bể, thì nay nhiều người coi là đặc sản, nhiều thương lái từ Thái Nguyên và các tỉnh khác sẵn sàng mua từ đây với giá khá cao vì nhu cầu của chúng. Nghiên cứu những khía cạnh của bảo tồn và phát triển loại LSNG này có thể không những chỉ là vấn đề đời sống kinh tế mà còn vươn tới những mục tiêu xa hơn như bảo tồn đa dạng sinh học, kiến thức bản địa, quản lý rừng bền vững và những khía cạnh nhân văn như miền núi, dân tộc, truyền thống,văn hóa… h 5 2. Nghiên cứu trên th gi i và ở Việt Nam.1 Nghiên cứu trên th gi i Cây làm thực phẩm và gia vị đã được người dân gây trồng, khai thác sử dụng cách đây hàng trăm năm, đặc biệt ở một số nước có nhiều rừng nhiệt đới như: Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia,… Theo Mendelsohn (1989) cho rằng hiện nay các nhà khoa học, các nhà kinh doanh trên thế giới bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến nghiên cứu, gây trồng và phát triển gắn với bảo tồn và phát triển rừng.
Đây cũng là mốc đánh dấu sự chuyển biến nhận thức về tầm quan trọng, vai trò trong xã hội, nó coi là nguồn tạo thu nhập quan trọng, nâng cao đời sống kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội cho người dân miền núi, vừa góp phần vào quá trình bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng. Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình theo các vấn đề khác nhau. * Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng cây làm thực phẩm và gia vị Xiao Jianghua (1996) đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh măng, sinh trường và phát triển của thân khí sinh là độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh.