Đánh giá hàm lượng Cu và Pb trong trầm tích tại cửa sông Sài Gòn-Đồng Nai

Luận án phân tích hàm lượng Cu, Pb trong trầm tích sông Sài Gòn - Đồng Nai, tác động của pH, độ mặn lên phôi ấu trùng hàu Crassostrea gigas.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

157
3
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

DANH MỤC PHỤ LỤC

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tổng quan về chất ô nhiễm Cu và Pb trong trầm tích cửa sông

1.1.1. Hàm lượng Cu và Pb trong trầm tích cửa sông trên Thế giới và Việt Nam

1.1.2. Các dạng kim loại nặng (Cu, Pb) trong trầm tích cửa sông

1.1.3. Các phương pháp đánh giá hàm lượng chất ô nhiễm Cu, Pb trong trầm tích cửa sông

1.1.4. Một số tính chất và độc tính của đồng và chì đối với thủy sinh vật

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng lên quá trình giải phóng các kim loại nặng trong trầm tích khu vực cửa sông

1.2.1. Ảnh hưởng pH môi trường đến quá trình giải phóng kim loại nặng trong trầm tích

1.2.2. Ảnh hưởng độ mặn môi trường đến quá trình giải phóng kim loại nặng trong trầm tích

1.2.3. Các nghiên cứu ảnh hưởng pH, độ mặn lên trầm tích cửa sông trên Thế giới và Việt Nam

1.3. Phương pháp thử nghiệm độc tính trầm tích được thêm chuẩn kim loại nặng

1.3.1. Các phương pháp thử nghiệm độc tính trầm tích

1.3.2. Chuẩn bị mẫu trầm tích được thêm chuẩn kim loại nặng

1.3.3. Chuẩn bị dung dịch rửa giải trầm tích đã được thêm chuẩn kim loại nặng

1.3.4. Chuẩn bị hàu (Crassostrea gigas) cho thử nghiệm

1.3.5. Tổng quan các phương pháp thử nghiệm độc tính trầm tích được thêm chuẩn kim loại nặng lên phôi và ấu trùng hàu

1.4. Giới thiệu về cửa sông Sài Gòn - Đồng Nai

1.4.1. Giới thiệu sông Sài Gòn – Đồng Nai

1.4.2. Đặc điểm vùng cửa sông Thị Vải và Soài Rạp

1.4.3. Hoạt động nuôi hàu vùng cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai

2. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Hóa chất, dụng cụ, thiết bị

2.2. Phương pháp thu và xử lý mẫu trầm tích

2.3. Phương pháp phân tích mẫu

2.4. Thí nghiệm khảo sát pH và độ mặn lên quá trình giải phóng Cu và Pb trong trầm tích

2.4.1. Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng pH lên quá trình giải phóng Cu và Pb trong trầm tích

2.4.2. Thí nghiệm khảo sát ảnh hưởng độ mặn lên quá trình giải phóng Cu và Pb trong trầm tích

2.5. Thí nghiệm khảo sát hấp phụ Cu2+ và Pb2+ của trầm tích cửa sông

2.5.1. Xác định cân bằng hấp phụ Cu2+ và Pb2+ lên trầm tích

2.5.2. Xác định động học hấp phụ Cu2+ và Pb2+ lên trầm tích

2.6. Thí nghiệm độc tính trầm tích được thêm chuẩn Cu2+ và Pb2+ lên phôi hàu

2.6.1. Chuẩn bị dung dịch rửa giải trầm tích được thêm chuẩn Cu2+ và Pb2+

2.6.2. Chuẩn bị sinh vật thử nghiệm

2.6.3. Thử nghiệm độc tính trầm tích được thêm chuẩn Cu2+, Pb2+

2.7. Phân tích dữ liệu thí nghiệm

2.7.1. Tính toán các chỉ số đánh giá theo phương pháp tiếp cận nền

2.7.2. Tính toán lượng Cu2+ và Pb2+ giải phóng khỏi trầm tích do pH và độ mặn

2.7.3. Tính toán cân bằng hấp phụ

2.7.4. Tính toán động học hấp phụ

2.7.5. Xử lý số liệu

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đánh giá hàm lượng (Cu, Pb) trong trầm tích tại các cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai

3.1.1. Đánh giá hàm lượng (Cu và Pb) trong trầm tích tại cửa sông Soài Rạp

3.1.2. Đánh giá hàm lượng (Cu và Pb) trong trầm tích tại cửa sông Thị Vải

3.1.3. So sánh hiện trạng Hàm lượng Cu và Pb của hai vùng cửa sông

3.2. Khảo sát ảnh hưởng pH và độ mặn lên quá trình giải phóng (Cu, Pb) trong trầm tích cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai

3.2.1. Ảnh hưởng pH lên quá trình giải phóng Cu, Pb khỏi trầm tích

3.2.2. Ảnh hưởng độ mặn lên quá trình giải phóng Cu, Pb khỏi trầm tích

3.3. Đánh giá khả năng hấp phụ (Cu2+, Pb2+) của trầm tích cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai

3.3.1. Xác định đặc tính hóa lý mẫu trầm tích tham chiếu

3.3.2. Cân bằng và động học quá trình hấp phụ Cu2+ lên trầm tích

3.3.3. Cân bằng và động học quá trình hấp phụ Pb2+ lên trầm tích

3.4. Xác định độc tính của trầm tích cửa sông Soài Rạp được thêm chuẩn (Cu2+, Pb2+) đến phôi, ấu trùng hàu Crassostrea gigas

3.4.1. Chuẩn bị mẫu trầm tích được thêm chuẩn Cu2+, Pb2+ và dung dịch rửa giải cho thử nghiệm độc tính

3.4.2. Thử nghiệm độc tính dung dịch rửa giải trầm tích được thêm chuẩn Cu2+ lên của phôi, ấu trùng hàu

3.4.3. Kết quả thử nghiệm độc tính dung dịch rửa giải của trầm tích được thêm chuẩn Pb2+ lên phôi, ấu trùng hàu

4. KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hàm lượng Cu và Pb trong trầm tích sông Sài Gòn Đồng Nai

Trầm tích tại cửa sông Sài Gòn-Đồng Nai là nơi tích tụ nhiều chất ô nhiễm, đặc biệt là các kim loại nặng như CuPb. Những kim loại này có thể gây hại cho môi trường và sức khỏe con người. Nghiên cứu cho thấy hàm lượng CuPb trong trầm tích tại khu vực này cao hơn mức cho phép, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và các hoạt động nuôi trồng thủy sản. Việc đánh giá hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích là cần thiết để hiểu rõ hơn về tình trạng ô nhiễm và tìm ra các biện pháp khắc phục.

1.1. Hàm lượng Cu và Pb trong trầm tích sông Sài Gòn Đồng Nai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hàm lượng CuPb trong trầm tích sông Sài Gòn-Đồng Nai vượt quá giới hạn cho phép. Các mẫu trầm tích được thu thập từ nhiều vị trí khác nhau cho thấy sự biến động lớn về nồng độ kim loại nặng này. Điều này cho thấy sự cần thiết phải theo dõi thường xuyên để đảm bảo an toàn cho môi trường và sức khỏe cộng đồng.

1.2. Tác động của ô nhiễm kim loại nặng đến môi trường

Ô nhiễm CuPb trong trầm tích không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng nước mà còn tác động đến các sinh vật thủy sinh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ kim loại nặng cao có thể gây ra các vấn đề về sinh sản và phát triển của các loài như hàu Crassostrea gigas. Việc hiểu rõ tác động này là rất quan trọng để bảo vệ hệ sinh thái.

II. Vấn đề ô nhiễm trầm tích và thách thức trong nghiên cứu

Ô nhiễm trầm tích tại cửa sông Sài Gòn-Đồng Nai đang trở thành một vấn đề nghiêm trọng. Các yếu tố như pH và độ mặn có thể ảnh hưởng đến sự giải phóng và khả năng hấp phụ của CuPb trong trầm tích. Nghiên cứu này nhằm mục đích làm rõ các yếu tố này và tìm ra giải pháp hiệu quả để giảm thiểu ô nhiễm.

2.1. Thách thức trong việc đánh giá hàm lượng kim loại nặng

Việc đánh giá hàm lượng CuPb trong trầm tích gặp nhiều khó khăn do sự biến động của các yếu tố môi trường. Các phương pháp phân tích hiện tại cần được cải thiện để đảm bảo độ chính xác và tin cậy trong kết quả nghiên cứu.

2.2. Ảnh hưởng của pH và độ mặn đến hàm lượng kim loại nặng

Nghiên cứu cho thấy rằng pH và độ mặn có thể làm thay đổi khả năng giải phóng CuPb từ trầm tích. Khi pH giảm, khả năng giải phóng kim loại nặng tăng lên, điều này có thể dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng hơn trong môi trường nước.

III. Phương pháp nghiên cứu hàm lượng Cu và Pb trong trầm tích

Để đánh giá hàm lượng CuPb trong trầm tích, nghiên cứu đã áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Các mẫu trầm tích được thu thập và phân tích bằng các kỹ thuật hiện đại nhằm đảm bảo độ chính xác cao nhất. Phương pháp này không chỉ giúp xác định nồng độ kim loại nặng mà còn đánh giá khả năng hấp phụ của chúng trong môi trường.

3.1. Phương pháp thu mẫu trầm tích

Mẫu trầm tích được thu thập từ nhiều vị trí khác nhau tại cửa sông Sài Gòn-Đồng Nai. Việc lựa chọn vị trí thu mẫu rất quan trọng để đảm bảo tính đại diện cho toàn bộ khu vực nghiên cứu.

3.2. Phân tích hàm lượng kim loại nặng

Các mẫu trầm tích sau khi thu thập sẽ được phân tích bằng các phương pháp hóa học hiện đại như quang phổ hấp thụ nguyên tử (AAS) và phổ khối (MS). Những phương pháp này giúp xác định chính xác hàm lượng CuPb trong mẫu trầm tích.

IV. Kết quả nghiên cứu về hàm lượng Cu và Pb

Kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng CuPb trong trầm tích tại cửa sông Sài Gòn-Đồng Nai cao hơn nhiều so với mức cho phép. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp quản lý và bảo vệ môi trường hiệu quả hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng pH và độ mặn có ảnh hưởng lớn đến khả năng giải phóng kim loại nặng từ trầm tích.

4.1. Đánh giá hàm lượng Cu và Pb tại các vị trí khác nhau

Hàm lượng CuPb được đánh giá tại nhiều vị trí khác nhau cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Các vị trí gần khu vực công nghiệp có hàm lượng kim loại nặng cao hơn so với các vị trí xa hơn.

4.2. Ảnh hưởng của pH và độ mặn đến hàm lượng kim loại

Nghiên cứu cho thấy rằng khi pH giảm, hàm lượng CuPb giải phóng từ trầm tích tăng lên. Tương tự, độ mặn cũng có tác động đáng kể đến sự giải phóng này, làm tăng nguy cơ ô nhiễm trong môi trường nước.

V. Kết luận và khuyến nghị cho tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng hàm lượng CuPb trong trầm tích sông Sài Gòn-Đồng Nai đang ở mức báo động. Cần có các biện pháp quản lý ô nhiễm hiệu quả hơn để bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Việc theo dõi thường xuyên và nghiên cứu sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hàm lượng kim loại nặng là rất cần thiết.

5.1. Khuyến nghị về quản lý ô nhiễm

Cần thiết lập các quy định nghiêm ngặt hơn về xả thải công nghiệp và kiểm soát ô nhiễm tại khu vực cửa sông. Các biện pháp bảo vệ môi trường cần được thực hiện đồng bộ để giảm thiểu ô nhiễm kim loại nặng.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Các nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc đánh giá tác động lâu dài của ô nhiễm kim loại nặng đến hệ sinh thái và sức khỏe con người. Cần phát triển các phương pháp mới để xử lý và giảm thiểu ô nhiễm trong trầm tích.

17/07/2025
Luận án đánh giá hàm lượng cu pb trong trầm tích tại cửa sông sài gòn đồng nai đưới tác động của ph độ mặn và ảnh hưởng của chúng lên phôi ấu trùng hàu crassostrea gigas

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Các kim loại nặng và các hợp chất của chúng tác động gây hại lên người và thủy sinh vật. Các kim loại nặng (như Cd, Cu, Pb, Hg, Zn) đều có thể gây độc ở nồng độ thấp, mặc dù một số trong chúng như đồng, kẽm rất cần thiết cho sự trao đổi chất bình thường [1]. Ô nhiễm trầm tích tại các khu vực cửa sông, cửa biển là một vấn đề lớn về môi trường do các tác dụng độc hại tiềm năng của nó. Các kim loại nặng từ các nguồn thải (tự nhiên hay nhân tạo) thông qua hệ thống sông lắng đọng dưới dạng trầm tích, Hàm lượng lâu dài dưới đáy sông, tích tụ tại các cửa sông, bãi bồi [2,3,4].

Vùng cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai cho thấy hàm lượng Cd rất nhỏ 0,1 mg/kg hay không phát hiện trong khi Cu, Pb cao hơn [3,5]. Crom chủ yếu tồn tại ở dạng Cr (III) không được coi là mối nguy hại cho sức khỏe [6]. Do đó xem xét hàm lượng Cu, Pb trong trầm tích sông Sài Gòn – Đồng Nai là có cơ sở. Quá trình giải phóng kim loại nặng trong trầm tích quyết định tính khả dụng sinh học của chúng lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường như pH, độ mặn, hàm lượng ôxy, nhiệt độ, tốc độ dòng chảy [7,8].

Các sự cố hóa học đã làm thay đổi pH môi trường và tác động đến các dạng kim loại nặng trong trầm tích [9,10,11]. Một số sự cố do axit ở Việt Nam đã xảy ra như sự cố ngày 28-7-2006 ở Tp HCM [12] và ngày 18-11-2018, ở sông Đồng Nai [13]. Thay đổi pH có thể diễn ra trong điều kiện cục bộ và ngắn hạn, nhưng các tác động có thể không hồi phục nhanh chóng [14]. Hạn hán, xâm nhập mặn, phá rừng, phát triển nuôi tôm ven các cửa sông cũng góp phần làm tăng độ mặn trong nước ở các dòng sông.

Khi độ mặn tăng thì hàm lượng kim loại nặng có trong trầm tích tăng [15]. Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Laing và cộng sự, thì ngược lại cho các nguyên tố Cu [7]. Hơn nữa, trong các năm qua như 2016 hay 2019 vào mùa khô xâm nhập mặn đã tiến sâu về thượng nguồn sông Sài Gòn – Đồng Nai tác động đến trầm tích sông. Do đó các nghiên cứu về ảnh hưởng độ mặn và pH lên trầm tích là cần thiết.

Các thử nghiệm sinh học là một công cụ cần thiết cho việc đánh giá chất lượng môi trường trầm tích. Thử nghiệm sinh học trên trầm tích kết hợp chất ô nhiễm sẽ dự báo chất lượng sinh học của khu vực nghiên cứu vì khi xảy ra thì hậu quả là không thể đảo ngược đối với các sinh vật sống [16]. Khả năng hấp phụ của trầm tích là một thông số quan trọng, nếu lượng bổ sung cho kết hợp vượt quá, kim loại sẽ liên kết với 2 bề mặt trầm tích bởi các quá trình khác với quá trình hấp phụ và do đó, có thể được giải phóng theo một cơ chế khác và với tốc độ khác nhau so với kim loại bị hấp phụ [17]. Do đó, các đặc tính hấp phụ của trầm tích phải được khảo sát trước nhằm tạo ra mẫu trầm tích kết hợp có các đặc tính trầm tích giống với trầm tích bị ô nhiễm tự nhiên [18].

Hàu (Crassostrea gigas) loài đang được nuôi phổ biến tại vùng cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai, có thể dễ dàng được thu cho thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Giai đoạn thụ tinh và đầu đời của sinh vật 2 mảnh vỏ trong đó có hàu (Crassostrea gigas) nhạy cảm hơn với các tác nhân ô nhiễm, do đó giai đoạn này thường đã được dùng để thử nghiệm đánh giá độc tính sinh học như một phương pháp [19,20]. Do đó, lựa chọn giống hàu này là phù hợp, mang tính đại diện cao. Các nghiên cứu về những quá trình di động kim loại nặng Cu, Pb trong trầm tích vùng cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai do tác động pH, độ mặn cũng như các ảnh hưởng lên phôi, ấu trùng hàu (Crassostrea gigas) còn rất thiếu thông tin.

Do đó, đề tài “Đánh giá hàm lượng Cu, Pb trong trầm tích tại cửa sông Sài Gòn- Đồng Nai dưới tác động của pH, độ mặn và ảnh hưởng của chúng lên phôi, ấu trùng hàu Crassostrea gigas” được thực hiện. Mục tiêu của đề tài: “Đánh giá rủi ro tiềm ẩn của hàm lượng Cu, Pb trong trầm tích lên phôi, ấu trùng hàu Crassostrea gigas tại vùng cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai”. Để đạt được mục tiêu của nghiên cứu đề tài đã thực hiện các nội dung sau: 1. Đánh giá hàm lượng chất ô nhiễm kim loại nặng (Cu, Pb) trong trầm tích tại các cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai.

Khảo sát ảnh hưởng các yếu tố môi trường (pH và độ mặn) lên quá trình giải phóng các kim loại nặng (Cu, Pb) trong trầm tích cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai. Đánh giá khả năng hấp phụ (Cu2+, Pb2+) của trầm tích cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai. Nghiên cứu độc tính trầm tích cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai được thêm chuẩn (Cu2+, Pb2+) đến phôi, ấu trùng hàu Crassostrea gigas. Đối tượng nghiên cứu:  Mẫu trầm tích mặt 3  Kim loại Cu, Pb tổng Hàm lượng trong trầm tích  Phôi và ấu trùng hàu (Crassostrea gigas) Phạm vi nghiên cứu: Hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai có 4 cửa sông chính: Thị Vải, Đồng Trang, Lòng Tàu và Soài Rạp trong đó Lòng Tàu hẹp nhưng sâu, lại ít bồi lắng nên thuận tiện giao thông đường thủy hơn là nuôi trồng thủy sản, Đồng Tranh ngắn được tách ra từ sông Thị Vải, tầm ảnh hưởng trong nuôi trồng thủy sản thấp.

Mẫu trầm tích tại 2 cửa sông của sông Sài Gòn - Đồng Nai là Thị Vải và Soài Rạp được lựa chọn trong nghiên cứu. Do đặc thù vùng cửa sông Thị Vải và Soài Rạp tiếp giáp rừng ngập mặn Cần giờ rất thích hợp nuôi trồng thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học. Thời gian thu mẫu vào mùa khô:  Đợt 1 tháng 2/2017 (cửa sông Soài Rạp)  Đợt 2 tháng 3/2017 (cửa sông Thị Vải)  Đợt 3 tháng 4/2017 (cửa sông Soài Rạp) Mùa khô được lựa chọn lấy mẫu cho nghiên cứu là do khoảng thời gian này hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích ven biển thường cao hơn so với mùa mưa [21], kết quả tương tự cũng được khẳng định trong nghiên cứu của Duncan và cộng sự, cho rằng do lưu lượng dòng chảy thấp trong mùa khô hỗ trợ quá trình tạo lắng đọng và tích tụ [22]. Ý nghĩa khoa học  Kết quả nghiên cứu góp phần hoàn thiện hơn cách tiếp cận đánh giá rủi ro môi trường do hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích.

 Kết quả nghiên cứu là cơ sở dự báo đánh giá rủi ro ô nhiễm Cu, Pb trong trầm tích vùng cửa sông lên phôi, ấu trùng hàu Thái Bình Dương. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả luận án sẽ giúp cho các quản lý kinh tế và môi trường trên lưu vực sông nhận diện rủi ro và ngay từ bây giờ phải có những giải pháp nhằm phòng ngừa, giảm thiểu những tác động bất lợi cho nguồn lợi thủy sản vùng cửa sông. Những đóng góp mới của Luận án và Khoa học và Công nghệ: 1. Đánh giá được hàm lượng Cu, Pb trong trầm tích tại cửa sông Sài Gòn- Đồng Nai dưới tác động của độ mặn, pH.

Đánh giá được ảnh hưởng của Cu, Pb trong trầm tích tại cửa sông Sài Gòn- Đồng Nai lên phôi, ấu trùng hàu Crassostrea gigas. TỔNG QUAN Tổng quan về chất ô nhiễm Cu và Pb trong trầm tích cửa sông 1.1 Hàm lượng Cu và Pb trong trầm tích cửa sông trên Thế giới và Việt Nam Hàm lượng chất ô nhiễm Cu, Pb trong trầm tích cửa sông trên Thế giới Kết quả các nghiên cứu trên Thế giới cũng đã cho thấy ô nhiễm kim loại nặng trong trầm tích sông và cửa sông là đáng quan ngại, đặc biệt là Cu và Pb (Bảng 1. Mức độ dao động rất lớn 4,5 mg/kg ở Vịnh Giao Châu, Thanh Đảo, Trung Quốc và 346 mg/kg ở Sông Buriganga, Bangladesh cho đồng và tương ứng cho chì là 8,2 – 105,6 mg/kg. Trong cùng một con sông hay cùng một quốc gia cũng có mức độ ô nhiễm Cu, Pb khác nhau.1 Hàm lượng kim loại Cu, Pb trong trầm tích từ vịnh, sông, hồ và cửa sông trên Thế giới Tên sông Cu (mg/kg) Pb (mg/kg) Nguồn trích dẫn Cửa sông Trường Giang, Trung 20,3-30,2 19,4-28,9 [23] quốc Vịnh Giao Châu, Thanh Đảo, 23,6 20,2 [24] Trung Quốc 4,5 -148,7 8,2-65,8 Cửa sông Hoàng Hà, Trung quốc 14,7-21,9 11,6-18,2 [23] Hạ lưu sông Tsurumi, 133,0 40,8 [25] Yokohama, Nhật Bản Sông Hàn ở Hàn quốc 7,64-139 14,2-96,6 [26] Sông Karnaphuli, Bangladesh 46,09– 112,43 21,98– 73,42 [27] Sông Kochin, Ấn độ 29,48 ± 4,37 [28] Sông Buriganga, Bangladesh 70-346 60,3-105,6 [29] Hàm lượng chất ô nhiễm Cu, Pb trong trầm tích cửa sông ở Việt Nam Kim loại nặng Cu, Pb được xem như là chất gây ô nhiễm độc hại nghiêm trọng và có nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan minh chứng sự tích lũy của chúng trong trầm tích ở Việt Nam, (Bảng 1.

Kết quả thu thập từ các nghiên cứu trước đó cho thấy trầm tích một số vùng sông và cửa sông Việt Nam vượt quy chuẩnViệt Nam QCVN 43-2017 (QCVN 43- 2017 Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia và chất lượng trầm tích) và SQG - EPA (Bảng 1. Cụ thể, cho thấy ô nhiễm Cu một số vị trí trên sông Tô Lịch và sông Nhuệ theo 6 nghiên cứu của Hương và cộng sự đã vượt quy chuẩn Việt Nam [30], khi so sánh với SQG - EPA thì hầu hết đều vượt ngưỡng an toàn cho môi trường nước. Đối với Pb thì hầu hết các khu vực ở phía Bắc đều vượt ngưỡng cho phép của quy chuẩn Việt Nam và SQG - EPA. Các kết quả về hàm lượng Cu, Pb cũng dao động lớn ở các con sông, ở trong cùng một con sông, Bảng 1.

Đặc biệt vùng cửa sông Sài Gòn – Đồng Nai có các nghiên cứu trên sông Thị Vải cũng rất khác nhau dao động 12,1-98,4 mg/kg cho Cu, 2,02-12,03 mg/kg cho Pb [31], tương tự như trên sông Sài Gòn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Đánh giá hàm lượng Cu và Pb trong trầm tích sông Sài Gòn-Đồng Nai dưới tác động của pH và độ mặn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự ảnh hưởng của các yếu tố môi trường như pH và độ mặn đến hàm lượng đồng (Cu) và chì (Pb) trong trầm tích sông Sài Gòn-Đồng Nai. Nghiên cứu này không chỉ giúp nhận diện mức độ ô nhiễm kim loại nặng trong khu vực mà còn chỉ ra những tác động tiềm tàng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách thức mà các yếu tố môi trường có thể làm thay đổi sự tích tụ của các kim loại nặng, từ đó nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường nước.

Để mở rộng thêm kiến thức về vấn đề này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ vnua đánh giá hàm lượng kim loại nặng trong đất nông nghiệp tại phường Châu Khê, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh, nơi nghiên cứu về ô nhiễm kim loại nặng trong đất nông nghiệp, hay Luận văn thạc sĩ hus đánh giá mức độ ô nhiễm kim loại nặng trầm tích biển Vịnh Hạ Long, cung cấp cái nhìn về ô nhiễm trong môi trường biển. Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ hus khảo sát đánh giá sự phân bố hàm lượng các kim loại nặng trong nước và trầm tích hệ thống sông Đáy, giúp bạn hiểu rõ hơn về sự phân bố của các kim loại nặng trong hệ thống sông. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề ô nhiễm kim loại nặng trong môi trường nước và trầm tích.