Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu hệ thống đất ngập nước đa dạng với tổng diện tích vượt trên 10 triệu hecta, đóng vai trò sống còn đối với sinh kế ven biển và an ninh sinh thái quốc gia. Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, ước tính có khoảng 180.000 hecta rừng ngập mặn ven biển đã biến mất do sự mở rộng nuôi trồng thủy sản tự phát, phát triển hạ tầng và áp lực từ các khu kinh tế ven biển. Nằm tại vùng cửa sông thuộc tỉnh Bình Định, đầm Thị Nại có diện tích tự nhiên 5.060 hecta, từng được che phủ bởi 1.000 hecta rừng ngập mặn nguyên sinh và 200 hecta thảm cỏ biển. Sự suy thoái nghiêm trọng của thảm thực vật trong những năm gần đây dưới tác động của nước thải đô thị từ thành phố Quy Nhơn và hoạt động xả thải công nghiệp chưa qua xử lý triệt để từ Khu kinh tế Nhơn Hội đã khiến nguồn lợi thủy sản suy giảm mạnh, bùng phát dịch bệnh tôm nuôi và gia tăng tính dễ bị tổn thương trước biến đổi khí hậu.

Nghiên cứu này được triển khai nhằm định lượng tổng giá trị kinh tế toàn phần của hệ sinh thái rừng ngập mặn đầm Thị Nại và thực hiện phân tích lợi ích - chi phí đối với dự án khôi phục 150 hecta rừng ngập mặn do Quỹ Rockefeller tài trợ trong khuôn khổ Chương trình Mạng lưới các thành phố ở Châu Á có khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu (ACCCRN) giai đoạn 3 với tổng kinh phí 850.000 USD (tương đương 17,697 tỷ đồng). Phạm vi khảo sát bao gồm 7 phường thuộc thành phố Quy Nhơn và 4 xã thuộc huyện Tuy Phước trong khung thời gian phân tích vòng đời dự án 22 năm. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu nền tảng và bằng chứng khoa học vững chắc giúp các nhà quản lý môi trường, chính quyền địa phương và các tổ chức tài trợ quốc tế đưa ra quyết định đầu tư công tối ưu, cân bằng giữa bài toán bảo tồn sinh thái và phát triển kinh tế bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề định giá dựa trên khung lý thuyết Tổng giá trị kinh tế toàn phần (Total Economic Value - TEV) được phát triển bởi Barbier và các cộng sự (1997). Khung phân tích này chia giá trị tài nguyên thành hai nhóm chính: Giá trị sử dụng và Giá trị phi sử dụng. Giá trị sử dụng trực tiếp bao gồm các sản phẩm khai thác cụ thể như nuôi trồng thủy sản, đánh bắt tự nhiên và thu nhập từ nhận khoán chăm sóc rừng. Giá trị sử dụng gián tiếp thể hiện qua các dịch vụ sinh thái như hỗ trợ năng suất thủy hải sản, bảo vệ bờ ao chống xói lở và cố định carbon khí quyển. Giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cho các thế hệ tương lai và giá trị hiện hữu của hệ sinh thái đất ngập nước.

Song song đó, khung phân tích Lợi ích - Chi phí (CBA) được áp dụng để so sánh phương án khôi phục 150 hecta rừng ngập mặn với phương án hiện trạng kết hợp nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản. Các chỉ tiêu tài chính và kinh tế trọng yếu được chuẩn hóa bao gồm Giá trị hiện tại ròng (NPV), Tỷ suất lợi ích trên chi phí (BCR) và Suất hoàn vốn nội bộ (IRR) nhằm đánh giá khả năng sinh lợi xã hội của nguồn vốn đầu tư công.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tích hợp linh hoạt các phương pháp lượng hóa kinh tế môi trường:

  • Phương pháp Giá thị trường (Market Price Method): Dùng để xác định doanh thu, chi phí và lợi nhuận thuần từ hoạt động nuôi tôm cua xen ghép và khai thác thủy sản tự nhiên quanh bãi triều.
  • Phương pháp Hàm sản xuất mở rộng Cobb-Douglas: Lồng ghép biến giả về sự hiện diện của rừng ngập mặn quanh ao nuôi để bóc tách giá trị hỗ trợ hệ sinh thái đối với năng suất nuôi trồng.
  • Phương pháp Chi phí thiệt hại tránh được (Cost Avoided Method): Đo lường giá trị bảo vệ bờ đìa thông qua số ngày công lao động tiết kiệm được trong việc duy tu, đắp bờ ao sau bão lũ.
  • Phương pháp Đánh giá ngẫu nhiên (Contingent Valuation Method - CVM): Sử dụng mô hình hồi quy nhị phân dạng tham số để ước tính mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) của người dân cho công tác bảo tồn.

Quy mô mẫu điều tra được xác định theo công thức xác suất thống kê đối với tổng dân số 463.891 người thuộc thành phố Quy Nhơn và huyện Tuy Phước (tương ứng khoảng 92.779 hộ gia đình). Với mức sai số cho phép 7%, nhóm nghiên cứu đã thu thập và xử lý thành công 271 bảng hỏi hợp lệ tại 3 địa bàn trọng điểm là xã Phước Sơn, xã Phước Thuận và phường Nhơn Bình. Dữ liệu sơ cấp được kiểm định và xử lý đồng bộ trên các phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS và EViews nhằm đảm bảo độ tin cậy tối đa cho các mô hình kinh tế lượng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình điều tra thực nghiệm và phân tích dữ liệu lượng hóa đã chỉ ra các giá trị kinh tế then chốt của rừng ngập mặn đầm Thị Nại:

Thứ nhất, về giá trị sử dụng trực tiếp, các hộ nuôi trồng thủy sản xen ghép tôm - cua - cá đạt doanh thu bình quân 38,02 triệu đồng/ha/năm với chi phí đầu tư 24,20 triệu đồng/ha/năm và chi phí lao động gia đình 9,69 triệu đồng/ha/năm, tạo ra mức lợi nhuận thuần 4,23 triệu đồng/ha/năm. Hoạt động đánh bắt thủy sản tự nhiên của 798 hộ chuyên nghiệp trên 350 hecta bãi triều mang lại thu nhập bình quân 26,94 triệu đồng/hộ/năm, chi phí hoạt động 23,23 triệu đồng/hộ/năm, sinh ra lợi nhuận ròng 3,71 triệu đồng/hộ/năm, tương ứng với giá trị đánh bắt đạt 8,458 triệu đồng/ha mặt nước bãi triều mỗi năm.

Thứ hai, về giá trị sử dụng gián tiếp, mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas đạt hệ số xác định R bình phương hiệu chỉnh là 0,65, khẳng định sự hiện diện của cây ngập mặn tác động có ý nghĩa thống kê ở mức 1% đến năng suất nuôi trồng. Các ao nuôi có rừng ngập mặn bao quanh đạt tổng sản lượng 346,38 kg/ha, cao hơn 19,07% so với các ao không có rừng (290,91 kg/ha), tạo ra giá trị hỗ trợ sinh thái đạt 7,22 triệu đồng/ha/năm. Đồng thời, rừng ngập mặn giúp giảm xói lở đê bao, tiết kiệm 26,78 ngày công lao động/ha/năm, mang lại giá trị bảo vệ bờ đìa tương đương 1,875 triệu đồng/ha/năm (tính theo đơn giá công nhật 70.000 đồng/ngày). Ngoài ra, khả năng hấp thụ carbon đạt 2,8 tấn/ha/năm, tương đương 42 USD/ha/năm (0,874 triệu đồng/ha/năm theo tỷ giá 20.820 VND/USD).

Thứ ba, về giá trị phi sử dụng, kết quả khảo sát CVM cho thấy mức sẵn lòng chi trả trung bình của người dân là 50.000 đồng/hộ/năm. Tính toán trên toàn bộ 92.779 hộ dân trong vùng hưởng lợi, tổng giá trị phi sử dụng của khu vực rừng phục hồi đạt tới 4,64 tỷ đồng mỗi năm.

Thứ tư, kết quả phân tích lợi ích - chi phí cho thấy dự án khôi phục 150 hecta rừng ngập mặn với tổng chi phí đầu tư 17,697 tỷ đồng trong 4 năm và chi phí bảo vệ 150.000 - 200.000 đồng/ha/năm trong 22 năm đạt Giá trị hiện tại ròng (NPV) lên tới 28,59 tỷ đồng và Tỷ suất lợi ích/chi phí (BCR) đạt 3,01 tại mức chiết khấu 10%. Con số này vượt trội hoàn toàn so với phương án duy trì hiện trạng nuôi trồng và đánh bắt chỉ đạt NPV là 9,28 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Cơ chế sinh thái học giải thích cho sự vượt trội của ao nuôi có rừng ngập mặn nằm ở hệ thống rễ cây phức tạp giúp lọc sạch môi trường nước, hấp thụ chất thải hữu cơ dư thừa và cung cấp nguồn thức ăn tự nhiên phong phú từ mùn bã thực vật. Điều này giúp giảm thiểu đáng kể chi phí nạo vét ao đầm và hạn chế rủi ro dịch bệnh vốn rất phổ biến ở các vùng nuôi thâm canh truyền thống.

Khi đặt cạnh các nghiên cứu tại Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) hay vùng rừng ngập mặn Cần Giờ, giá trị kinh tế của đầm Thị Nại thể hiện rõ nét đặc trưng của một hệ sinh thái đầm phá ven đô thị chịu sức ép kép từ phát triển công nghiệp và mở rộng không gian sống. Phân tích độ nhạy với các mức suất chiết khấu biến thiên từ 5% đến 15% khẳng định tính bền vững của dự án: ngay cả ở mức chiết khấu cao 15%, NPV của dự án khôi phục rừng vẫn đạt 14,286 tỷ đồng, cao hơn 1,08 lần so với phương án hiện trạng. Toàn bộ các luồng chi phí và lợi ích kinh tế xã hội được tổng hợp trực quan qua ma trận đối sánh tài chính, minh chứng rõ ràng việc khôi phục rừng là giải pháp đầu tư tối ưu cho phúc lợi cộng đồng lâu dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phân tích định lượng xác thực, luận văn kiến nghị hệ thống giải pháp hành động cụ thể cho các cơ quan thẩm quyền:

  1. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định và Văn phòng Điều phối Biến đổi khí hậu (CCCO): Phê duyệt và triển khai kế hoạch đồng quản lý tài nguyên đất ngập nước cho 150 hecta rừng ngập mặn mới trồng tại đầm Thị Nại trong giai đoạn 2024-2027. Thiết lập mức hỗ trợ giao khoán bảo vệ rừng tối thiểu 200.000 đồng/ha/năm cho cộng đồng dân cư địa phương để nâng cao trách nhiệm tuần tra, bảo vệ rừng non.

  2. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Bình Định: Xây dựng quy hoạch chuyển đổi 100% diện tích ao nuôi quảng canh kém hiệu quả ven đầm sang mô hình nuôi tôm sinh thái có tán cây ngập mặn bao quanh bờ ao. Mục tiêu đến năm 2026 nâng năng suất thủy sản bình quân thêm 19%, đồng thời giúp các chủ đìa cắt giảm ít nhất 26,78 ngày công duy tu bờ đê mỗi năm.

  3. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Định: Thành lập cơ chế thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng (PES) và thương mại hóa tín chỉ carbon từ 150 hecta rừng phục hồi với mức giá mục tiêu 15 USD/tấn CO2. Tạo lập Quỹ Xanh địa phương huy động mức đóng góp tự nguyện 50.000 đồng/hộ/năm từ 92.779 hộ dân để tái đầu tư vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học.

  4. Ủy ban nhân dân thành phố Quy Nhơn và huyện Tuy Phước: Tích hợp ranh giới bảo tồn nghiêm ngặt vùng đầm Thị Nại vào Đồ án quy hoạch chung đô thị thích ứng biến đổi khí hậu tầm nhìn đến năm 2035. Tăng cường kiểm soát nguồn nước thải sinh hoạt và công nghiệp từ Khu kinh tế Nhơn Hội, kiên quyết xử lý triệt để các hành vi lấn chiếm bãi triều làm đầm nuôi tự phát.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, phục vụ thiết thực cho các nhóm đối tượng sau:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Lãnh đạo Ủy ban nhân dân các cấp, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và PTNT có thể sử dụng khung phân tích CBA và các chỉ số NPV, BCR làm luận cứ khoa học trực tiếp để phê duyệt các dự án đầu tư công và lập quy hoạch không gian biển.
  • Các nhà nghiên cứu kinh tế môi trường và sinh thái học: Luận văn cung cấp phương pháp mẫu mực trong việc áp dụng mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas mở rộng và kỹ thuật điều tra CVM giải quyết bài toán định giá tài nguyên phức tạp tại Việt Nam.
  • Các tổ chức phi chính phủ và định chế tài chính quốc tế: Các đơn vị tài trợ như Quỹ Rockefeller, IUCN, GIZ hay Mạng lưới ACCCRN có thêm dữ liệu thực chứng tin cậy để đánh giá hiệu quả vốn viện trợ và nhân rộng mô hình tăng cường khả năng chống chịu khí hậu cho các đô thị ven biển.
  • Các hộ nuôi trồng, ngư dân và hội đồng quản lý cộng đồng: Giúp người dân hiểu rõ lợi ích kinh tế cụ thể của cây ngập mặn trong việc nâng cao năng suất thủy sản, bảo vệ bờ đìa và chủ động tham gia vào các hợp đồng nhận khoán quản lý rừng.

Câu hỏi thường gặp

Rừng ngập mặn đầm Thị Nại mang lại tổng giá trị kinh tế toàn phần bao gồm những thành phần nào? Tổng giá trị kinh tế toàn phần bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp từ nuôi trồng và đánh bắt thủy sản (chiếm khoảng 17,23%), giá trị sử dụng gián tiếp từ hỗ trợ sinh thái, chống xói lở bờ ao và hấp thụ 2,8 tấn carbon/ha/năm (chiếm 9,27%), và giá trị phi sử dụng từ sự sẵn lòng chi trả của cộng đồng đạt 4,64 tỷ đồng/năm (chiếm 73,50%).

Tại sao ao nuôi thủy sản có cây ngập mặn lại đạt năng suất cao hơn ao nuôi truyền thống? Ao nuôi sinh thái có cây ngập mặn cho năng suất tổng hợp tôm, cua, cá đạt 346,38 kg/ha, cao hơn 19,07% so với mức 290,91 kg/ha của ao nuôi không có cây. Rừng ngập mặn giúp điều hòa vi khí hậu, tạo giá thể lọc nước tự nhiên, hạn chế dịch bệnh và cung cấp nguồn sinh vật phù du làm thức ăn giàu dinh dưỡng.

Hiệu quả tài chính - kinh tế của dự án khôi phục 150 ha rừng ngập mặn vượt trội như thế nào so với hiện trạng? Tại mức chiết khấu 10% trong vòng đời 22 năm, dự án khôi phục 150 ha rừng ngập mặn đạt Giá trị hiện tại ròng NPV là 28,59 tỷ đồng và Tỷ suất lợi ích/chi phí BCR là 3,01. Trong khi đó, phương án giữ nguyên hiện trạng nuôi trồng và đánh bắt chỉ đạt NPV 9,28 tỷ đồng, thấp hơn phương án phục hồi tới 19,31 tỷ đồng.

Kỹ thuật định giá ngẫu nhiên CVM được áp dụng như thế nào trong luận văn? Nghiên cứu xây dựng kịch bản thị trường giả định và phỏng vấn ngẫu nhiên 271 hộ gia đình tại 3 xã/phường trọng điểm. Qua mô hình hồi quy xác suất nhị phân, mức sẵn lòng chi trả trung bình WTP được xác định chính xác là 50.000 đồng/hộ/năm, làm cơ sở ngoại suy cho 92.779 hộ dân toàn vùng.

Kết quả phân tích độ nhạy của dự án biến động ra sao khi lãi suất chiết khấu thay đổi? Khi thay đổi suất chiết khấu từ 5% lên 15%, NPV của dự án khôi phục rừng luôn duy trì giá trị dương rất cao (dao động từ 53,82 tỷ đồng xuống 14,28 tỷ đồng) và luôn vượt trội so với phương án sử dụng đất hiện trạng, chứng minh dự án có độ an toàn tài chính và hiệu quả xã hội tuyệt đối.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng hóa thành công các giá trị kinh tế trực tiếp, gián tiếp và phi sử dụng của hệ sinh thái rừng ngập mặn đầm Thị Nại với tổng giá trị kinh tế toàn phần đóng góp to lớn cho phúc lợi xã hội.
  • Mô hình hàm sản xuất Cobb-Douglas chứng minh ao nuôi sinh thái có rừng ngập mặn giúp nâng cao 19,07% năng suất thủy hải sản và tiết kiệm 26,78 ngày công lao động bảo vệ bờ đìa mỗi năm.
  • Phân tích CBA khẳng định dự án khôi phục 150 hecta rừng ngập mặn đem lại Giá trị hiện tại ròng 28,59 tỷ đồng, vượt trội gấp 3,08 lần so với phương án hiện trạng và duy trì tính vững chắc qua toàn bộ các kịch bản kiểm tra độ nhạy.
  • Công trình đóng góp hệ thống luận cứ khoa học sắc bén giúp Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định và các cơ quan quản lý chuyển hướng chính sách từ khai thác tự phát sang đồng quản lý và phục hồi sinh thái thích ứng biến đổi khí hậu.
  • Để biến các phát hiện khoa học thành hiện thực, các bên liên quan cần khẩn trương hiện thực hóa quy chế bảo vệ rừng, xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ sinh thái và đẩy mạnh tuyên truyền cộng đồng ngay trong chu kỳ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội giai đoạn tới.