CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về độc tính gene Thử nghiệm độc tính gene là một bước quan trọng trong tất cả các đánh giá rủi ro và mối nguy hiểm hóa học. Các hóa chất gây tổn thương di truyền có thể gây ra những hậu quả bất lợi lâu dài cho sức khỏe bao gồm ung thư, rối loạn di truyền và các tình trạng thoái hóa khác. Nhiều yếu tố vật lý, hóa học hoặc sinh học có thể gây chết tế bào.
Tuy nhiên, một số yếu tố chỉ làm hỏng vật liệu di truyền và được gọi là chất độc di truyền (geneotoxin). Những biến đổi về vật liệu di truyền không được phát hiện và kiểm soát có thể tiếp tục tồn tại và nhân lên trong quá trình nhân đôi tế bào và góp phần vào sự phát triển của các bệnh ung thư, tim mạch, thoái hóa thần kinh,. Sự tổn thương vật liệu di truyền của tế bào soma có thể dẫn đến các bệnh ung thư; trong khi đó, tổn thương ở tế bào mầm sinh dục có thể dẫn đến đột biến di truyền gây dị tật bẩm sinh. Đột biến có thể xảy ra dưới nhiều hình thức, có thể bao gồm sao chép, chèn hoặc xóa thông tin di truyền làm hỏng DNA hoặc nhiễm sắc thể của tế bào.
Vì vậy, đánh giá độc tính gene là cần thiết để đánh giá khả năng, mức độ gây tổn thương lên vật liệu di truyền của các hóa chất được quan tâm đối với con người và quần thể sinh vật. Nghiên cứu về độc tính gene là các thử nghiệm đánh giá trên các mô hình in vitro và in vivo để xác định chất được quan tâm có gây tổn thương vật liệu di truyền một cách trực tiếp hay gián tiếp bằng các cơ chế khác nhau. Độc tính di truyền thường là điểm cuối trong quá trình đánh giá tính an toàn của một chất mục tiêu [38]. Lịch sử phát triển của các phương pháp đánh giá độc tính gene Độc tính di truyền được nghiên cứu từ những năm 1900 và được tách thành một nhánh nghiên cứu độc lập về độc tính gene vào năm 1927.
Năm 1983, số lượng các chất mới được phát triển tăng lên đáng kể. Các yêu cầu về đăng ký, đánh giá, cấp phép của châu Âu yêu cầu phải đánh giá về độc tính và cả độc tính gene của số lượng lớn các chất được sử dụng trước đó đã tạo động lực cho các thử nghiệm về độc tính 3 Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học di truyền trở nên hiệu quả và nhanh chóng hơn. Hơn thế, các cơ quan quản lý ký cam kết tránh sử dụng động vật thí nghiệm khi không cần thiết trong quá trình thử độc. Để phù hợp với các nguyên tắc cơ bản về tính nhân đạo khi sử dụng động vật thí nghiệm, các thử nghiệm in vitro được phát triển mạnh mẽ thay thế cho các thử nghiệm in vivo nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ về mặt khoa học.
Các phương pháp đánh giá khả năng gây đột biến của hóa chất theo hướng dẫn của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) lần đầu tiên được công bố vào năm 1987. Tháng 3 năm 2010, tại cuộc họp lần thứ 22, nhóm điều phối quốc gia của OECD đã thành lập nhóm chuyên gia để xem xét và đưa ra các quyết định điều chỉnh các thử nghiệm đánh giá độc tính gene. Sau đó, các bản cập nhật bổ sung, thay đổi hoặc xóa bỏ một số thử nghiệm đánh giá độc tính di truyền được công bố vào những năm 2013, 2014, 2015, 2016 [43]. Xu hướng ứng dụng các thử nghiệm đánh giá độc tính gene hiện nay Các thử nghiệm đánh giá độc tính gene đang được phát triển mạnh từ những năm 2010 đến nay.
Hằng năm, khoảng 2000 nghiên cứu có từ khóa độc tính gene (geneotoxic) được công bố trên Trung tâm thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI). Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy việc đánh giá độc tính gene ngày càng được sử dụng rộng rãi và thường quy cũng như sự cần thiết của việc đánh giá độc tính trong các đề tài nghiên cứu. Rất nhiều các thử nghiệm với các đối tượng thí nghiệm đa dạng trong các đánh giá về độc tính di truyền được công bố và hướng dẫn theo OECD. Tùy vào từng nhóm chất và mục đích đánh giá độc tính di truyền, các nhóm nghiên cứu sẽ sử dụng các công cụ và đối tượng đánh giá phù hợp.
Sau khi sửa đổi qua các giai đoạn, các nhà khoa học đã đưa ra 21 hướng dẫn theo OECD sử dụng trong đánh giá độc tính gene. Tuy nhiên, hiện nay một số phương pháp được sử dụng phổ biến hơn đó là thử nghiệm Ames (OECD 471), Comet assay (OECD 489), đánh giá độc tính gene tế bào động vật có vú bằng gene HPRT/XPRT (OECD 476), thử nghiệm vi nhân (Micronucleus) (OECD 474, OECD 487), thử nghiệm bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể (OECD 473) [17]. Thử nghiệm đột biến gene trên mô hình vi khuẩn - Thử nghiệm Ames 4 Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học Thử nghiệm đánh giá độc tính gene trên mô hình vi khuẩn (Ames test) được thực hiện theo hướng dẫn của OECD 471. Thử nghiệm sử dụng trong đánh giá phát hiện các đột biến liên quan đến việc thay thế, thêm hoặc mất một hoặc một vài cặp bazơ nitơ trong các gene cần thiết để tổng hợp histidine.
Các chủng Salmonella typhimurium được sử dụng trong thử nghiệm là các chủng đã được biến đổi làm chúng không thể tổng hợp axit amin thiết yếu – histidine. Do đó, chúng không thể phát triển và hình thành khuẩn lạc trong môi trường thiếu histidine. Khi các đột biến mới được hình thành trên các gene liên quan đến histidine trên đột biến trước đó hoặc trên các vị trí gần đó có thể giúp vi khuẩn sinh trưởng nhờ có thể tổng hợp histidine nội sinh. Kết quả là các vi khuẩn đột biến tăng sinh và hình thành các khuẩn lạc [6], [40].1: Kết quả thử nghiệm Ames A: Đĩa đối chứng, B: Đĩa tế bào phơi nhiễm với chất gây đột biến [15].
Để đánh giá khả năng bị đột biến của Salmonella typhimurium gây ra do hóa chất thử nghiệm hay không, vi khuẩn được nuôi trên đĩa thạch có bổ sung hóa chất cần đánh giá độc tính gene và một lượng nhỏ histidine để chúng có thể phát triển trong thời gian đầu và có khả năng biến đổi. Sau đó, khi môi trường đã cạn kiệt histidine, những vi khuẩn bị đột biến có thể sinh trưởng không phụ thuộc vào histidine ngoài môi trường mới có thể tiếp tục phát triển và tạo ra các khuẩn lạc. Số lượng khuẩn lạc được tạo ra một cách tự phát trong đĩa đối chứng âm là tương đối cố định với từng chủng vi khuẩn (Hình 1. Trong các đĩa được bổ sung chất gây đột biến, số lượng khuẩn lạc được tăng lên (Hình 1.
5 Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học Thử nghiệm có ưu điểm là nhanh chóng, chi phí thấp và dễ thực hiện. Tuy nhiên, Salmonella typhimurium là sinh vật nhân sơ nên không phải là mô hình phù hợp cho các đánh giá, nhận định liên quan tới cơ thể người. Do đó, thử nghiệm thường được sử dụng trong sàng lọc ban đầu về độc tính gene hoặc khả năng gây ra đột biến. Thử nghiệm bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể tế bào động vật có vú Thử nghiệm bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể được đưa vào hướng dẫn theo OECD 473.
Thử nghiệm nhằm đánh giá khả năng gây tổn thương đến bộ nhiễm sắc thể của các hóa chất. Các dòng tế bào thường được sử dụng trong mô hình đánh giá này là V-79, CHO, tế bào lympho máu ngoại vi của người. Thử nghiệm dựa trên quần thể tế bào đang tăng sinh của các dòng tế bào đã được nuôi cấy trong kỳ giữa. Các tế bào được phơi nhiễm với hóa chất sau đó sẽ được tiếp xúc với Colchicine (chất ức chế giai đoạn giữa và giai đoạn sau của quá trình phân bào).
Sau đó, tế bào được ủ trong môi trường nhược trương để thu được bộ nhiễm sắc thể, cố định và nhuộm Giemsa [44]. Những thay đổi trong bộ nhiễm sắc thế của tế bào so với bộ nhiễm sắc thể ban đầu như thay đổi hình thái nhiễm sắc thể hoặc số lượng nhiễm sắc thể cho thấy hóa chất thử nghiệm có khả năng gây ra đột biến gene (Hình 1.2: Kết quả thử nghiệm bất thường cấu trúc nhiễm sắc thể Mũi tên màu đỏ chỉ các nhiễm sắc thể bị đứt gãy [34]. 6 Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học 1. Thử nghiệm sao chổi (Comet assay - CMT) Thử nghiệm Comet assay được thực hiện theo hướng dẫn của OECD 489.
Comet assay được áp dụng cho nhiều loại mô và bất kỳ loại tế bào đặc biệt nào. Thử nghiệm giúp phát hiện các tổn thương DNA và phát hiện nhiều tổn thương DNA nguyên phát mà các xét nghiệm khác không thể đánh giá.3: Kết quả thử nghiệm Comet assay A: Tế bào bình thường, B: Tế bào bị đột biến [19]. Trong thử nghiệm, sau khi được phơi nhiễm với các hóa chất cần đánh giá, các tế bào được ủ trong agarose trên một lam kính và được ly giải để giải phóng các vùng nhân có chứa các vòng DNA siêu xoắn liên kết với ma trận hạt nhân (nuclear matrix). Điện di ở độ pH cao cho kết quả có cấu trúc giống sao chổi được quan sát bằng kính hiển vi huỳnh quang.
Các vòng có điểm đứt sẽ mất độ siêu xoắn và bị kéo dài về phía cực dương [54]. Cường độ của đuôi sao chổi so với đầu phản ánh số lượng DNA bị đứt gãy. Tín hiệu DNA di chuyển càng mạnh thì vật chất di truyền bị tổn thương càng nhiều. Cấu trúc tổng thể có đầu tròn tương ứng với DNA không bị đứt gãy (Hình 1.
Phần đuôi của sao chổi thể hiện DNA bị hỏng. Đuôi càng sáng và dài thì mức độ tổn thương DNA càng cao (Hình 1. Thử nghiệm vi hạt nhân (Micronucleus test - MN) Thử nghiệm vi nhân được đưa vào hướng dẫn của OECD 474 và OECD 487. Thử nghiệm nhằm đánh giá khả năng gây đột biến của các hóa chất dựa trên sự hình thành nhân con trong quá trình phân bào.
Các dòng tế bào thường được sử dụng trong 7 Tổng quan tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học thử nghiệm là TK6, CHO-WBL, CHO-K1, CHL, V-79, L5178Y, tế bào lympho máu ngoại vi của chuột, … Các vi nhân hình thành là kết quả của sự đứt gãy DNA dẫn đến hình thành các đoạn nhiễm sắc thể hoặc một nhiễm sắc thể không thể phân chia về hai phía của tế bào trong quá trình phân bào.