Luận văn thạc sĩ về đánh giá độ lún của móng cọc trong địa kỹ thuật xây dựng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu địa kỹ thuật xây dựng đánh giá độ lún của móng cọc có xét đến ma sát giữa đất và cọc, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại học Quốc gia TP. HCM

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2010

102
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu

Đề tài 'Đánh giá độ lún của móng cọc trong địa kỹ thuật xây dựng' tập trung vào việc phân tích và đánh giá độ lún của móng cọc có xét đến yếu tố ma sát giữa đất và cọc. Độ lún là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự ổn định và an toàn của công trình. Việc đánh giá chính xác độ lún giúp các kỹ sư có thể thiết kế móng cọc một cách hiệu quả, đảm bảo khả năng chịu tải và giảm thiểu rủi ro trong quá trình thi công. Đặc biệt, trong các công trình xây dựng lớn, việc kiểm soát độ lún là rất cần thiết để tránh những thiệt hại về kinh tế và an toàn. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp Bartolomei để tính toán độ lún, so sánh với các phương pháp khác như phương pháp móng khối quy ước và phương pháp kinh nghiệm.

II. Tổng quan về các phương pháp ước lượng độ lún cho móng cọc

Trong lĩnh vực địa kỹ thuật, có nhiều phương pháp được sử dụng để ước lượng độ lún của móng cọc. Các phương pháp này có thể chia thành hai nhóm chính: phương pháp cho cọc đơn và phương pháp cho nhóm cọc. Đối với cọc đơn, độ lún thường được xác định dựa trên các yếu tố như tải trọng tác dụng, đặc tính cơ lý của đất và chiều dài cọc. Ngược lại, độ lún của nhóm cọc phụ thuộc vào cách thức truyền tải trọng lên đất và sự tương tác giữa các cọc. Việc lựa chọn phương pháp phù hợp là rất quan trọng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến độ chính xác của kết quả tính toán. Theo TCVN 205:1998, việc tính toán độ lún cần phải đảm bảo rằng độ lún không vượt quá giới hạn cho phép, nhằm đảm bảo an toàn cho công trình.

III. Phương pháp xác định độ lún của móng cọc có xét đến ma sát giữa đất và cọc

Phương pháp Bartolomei được áp dụng để xác định độ lún của móng cọc có xét đến ma sát giữa đất và cọc. Phương pháp này cho phép tính toán độ lún một cách chính xác hơn bằng cách xem xét các yếu tố như điều kiện địa chất và cấu tạo của móng cọc. Các dữ liệu phục vụ cho bài toán bao gồm thông tin về loại đất, chiều dài cọc và tải trọng tác dụng. Kết quả tính toán từ phương pháp Bartolomei sẽ được so sánh với các phương pháp khác để đánh giá tính chính xác và hiệu quả của nó. Việc áp dụng phương pháp này không chỉ giúp cải thiện độ chính xác trong thiết kế mà còn giúp các kỹ sư có cái nhìn tổng quan hơn về sự tương tác giữa đất và cọc.

IV. Đánh giá độ lún của móng cọc có xét đến ma sát giữa đất và cọc

Đánh giá độ lún của móng cọc có xét đến ma sát giữa đất và cọc là một bước quan trọng trong quá trình thiết kế. Điều này giúp xác định được độ lún thực tế của cọc trong điều kiện thi công cụ thể. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng độ lún của cọc có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như loại đất, chiều dài cọc và tải trọng tác dụng. Việc phân tích các yếu tố này sẽ giúp đưa ra những nhận xét và kết luận chính xác về độ lún của cọc. Ngoài ra, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc bỏ qua yếu tố ma sát có thể dẫn đến những sai lệch lớn trong kết quả tính toán, từ đó ảnh hưởng đến sự an toàn và ổn định của công trình.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu về 'Đánh giá độ lún của móng cọc trong địa kỹ thuật xây dựng' đã chỉ ra tầm quan trọng của việc xem xét ma sát giữa đất và cọc trong quá trình tính toán độ lún. Kết quả cho thấy rằng phương pháp Bartolomei là một công cụ hữu ích trong việc đánh giá độ lún, giúp cải thiện độ chính xác trong thiết kế. Đề xuất cho các nghiên cứu tiếp theo là cần mở rộng phạm vi nghiên cứu để bao quát nhiều loại cọc và điều kiện địa chất khác nhau. Việc áp dụng các phương pháp hiện đại và công nghệ mới trong khảo sát địa chất cũng sẽ giúp nâng cao độ chính xác của các kết quả tính toán.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Mục đích và ý nghĩa của đề tài Trong thiết kế móng cho các công trình xây dựng (bao gồm cả móng cọc và móng nông), hai vấn đề quan trọng cần quan tâm hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến sự làm việc ổn định của kết cấu nền móng chính là sức chịu tải và biến dạng (lún) của đất nền dưới đáy móng. Đối với móng cọc, đặc biệt là cọc ma sát, vì biến dạng lún thường xảy ra trong và sau quá trình thi công nên rất khó có thể kiểm soát hoặc khắc phục nếu xảy ra hiện tượng độ lún vượt quá giới hạn cho phép. Cũng không thể đưa ra những thiết kế quá thiên về an toàn, giảm tối đa độ lún của công trình mà gây lãng phí về mặt kinh tế. Điều đó đòi hỏi người thiết kế cần có được những công cụ hữu hiệu để có thể dự đoán một cách chính xác độ lún của móng cọc.

Trên thực tế, từ các dữ liệu quan trắc lún của một số công trình sử dụng móng cọc, có thể nhận thấy rằng tồn tại sự khác biệt giữa độ lún thiết kế và độ lún thu được từ quan trắc thực tế, giữa độ lún của cọc đơn và độ lún của nhóm cọc. Nguyên nhân gây ra sự khác biệt về độ lún giữa cọc đơn và nhóm cọc được chứng minh là do hiệu ứng nhóm. Còn nguyên nhân gây ra sự khác biệt giữa độ lún thiết kế và quan trắc có thể là do các yếu tố: mức độ chính xác và hợp lý của công tác khảo sát địa chất – công trình khu vực xây dựng, các hiện tượng địa chất động lực công trình xảy ra trong phạm vi nền móng công trình, cách lựa chọn phương pháp tính lún cho móng cọc. Theo quy phạm thiết kế hiện hành, các phương pháp xác định độ lún của móng cọc được khuyến cáo sử dụng thường dựa trên mô hình móng khối quy ước cho nhóm cọc, lý thuyết bài toán phẳng cho băng cọc, lớp biến dạng tuyến tính cho bè cọc, bài toán không gian biến dạng hoặc dựa vào kết quả nén tĩnh dùng cho cọc đơn.

Trong đó phương pháp móng khối quy ước được sử dụng nhiều nhất. -2- Việc lựa chọn kích thước móng khối quy ước phụ thuộc vào số lượng và khoảng cách cọc bố trí trong móng cũng như đặc trưng cơ lý của đất và chiều dài cọc. Theo điều kiện địa chất khu vực, do chiều dài cọc thường có giá trị lớn nên kích thước móng khối quy ước sẽ lớn tương ứng. Trong trường hợp này việc bỏ qua thành phần ma sát giữa đất và cọc (hoặc chỉ xét đến một cách tổng thể) có thể là nguyên nhân làm kết quả tính toán thiết kế khác biệt so với thực tế.

Do đó, đề tài được thực hiện với mục đích: đánh giá độ lún của móng cọc có xét đến ma sát giữa đất và cọc. Phương pháp nghiên cứu - Tổng hợp các phương pháp xác định độ lún cho móng cọc đang được sử dụng phổ biến trong thiết kế hiện nay. - Trình bày cơ sở lý thuyết và phương pháp tính toán độ lún của móng cọc có xét đến ma sát giữa đất và cọc được đề nghị bởi Bartolomei. - Sử dụng phương pháp Bartolomei để tính toán độ lún cho một móng cọc cụ thể.

So sánh kết quả này với kết quả tính có được từ: phương pháp móng khối quy ước, phương pháp bán kinh nghiệm hoặc phương pháp kinh nghiệm sử dụng tương quan giữa độ lún của cọc đơn (trong thí nghiệm nén tĩnh) và nhóm cọc để đưa ra các nhận xét và kết luận về phương pháp tính. Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu này được thực hiện trên một kết cấu móng cọc bê tông đúc sẵn của công trình tháp TW3-TW4 (Zone B) là 1 trong 4 cụm công trình nhà cao tầng thuộc dự án Diamond Island, quận 2, Tp Hồ Chí Minh. Hạn chế của đề tài Các quan trắc lún cho công trình dân dụng hiện nay chủ yếu tập trung cho móng cọc khoan nhồi đài bè, ít có công trình tiến hành quan trắc cho móng cọc bê tông cốt thép sử dụng đài đơn. Do hạn chế về mặt số liệu quan trắc nên các kết quả -3- tính toán trong đề tài chỉ so sánh được với độ lún của móng tính theo phương pháp kinh nghiệm sử dụng kết quả nén tĩnh cọc.

Ảnh hưởng của yếu tố ma sát giữa đất và cọc mới chỉ được xem xét trong điều kiện giả thiết ma sát giữa đất và cọc là phân bố đều mà chưa xét đến ứng xử ngoài thực tế của chúng. Việc tính toán mới chỉ thực hiện trên cọc bê tông cốt thép đúc sẵn, chưa thực hiện được trên cọc khoan nhồi và một số loại cọc khác. TỔNG QUAN VỀ CÁC PHƢƠNG PHÁP ƢỚC LƢỢNG ĐỘ LÚN CHO MÓNG CỌC Móng cọc được sử dụng trong thiết kế nền móng với chức năng chính là truyền tải trọng xuống các lớp đất sâu hơn có khả năng chịu được tải trọng với một hệ số an toàn đầy đủ tức là ở tải trọng làm việc không gây ra độ lún có hại cho kết cấu mà chúng phải chống đỡ [21]. Theo TCVN 205:1998 [16], nguyên tắc để tính toán thiết kế móng cọc là dựa trên hai nhóm trạng thái giới hạn cơ bản: - Nhóm thứ nhất bao gồm các tính toán: sức chịu tải giới hạn của cọc theo đất nền, độ bền của vật liệu làm cọc và đài cọc, độ ổn định của cọc và móng.

- Nhóm thứ hai gồm các tính toán: độ lún của nền cọc và móng, chuyển vị ngang của cọc và móng, hình thành và mở rộng vết nứt trong cọc và đài cọc bằng bê tông cốt thép. Theo BS 8004:1986 [21], mọi thiết kế móng cọc đều phải thỏa mãn: - Hệ số an toàn chống phá hủy đủ cho cả kết cấu móng và đất nền. - Độ lún chung của móng và đặc biệt là độ lún lệch dưới tải trọng làm việc không được quá lớn, ảnh hưởng đến khả năng làm việc của kết cấu. - Độ an toàn, độ ổn định của các công trình lân cận và các hệ thống đường ống dịch vụ phải được đảm bảo.

Như vậy, việc dự tính độ lún cho móng cọc là bước không thể thiếu khi tiến hành thiết kế móng cọc. Thực tế, việc dự tính độ lún của móng cọc là một vấn đề phức tạp do: - Sự thay đổi của trạng thái ứng suất của đất trong và sau khi hạ cọc. - Không xác định được rõ ràng sự phân bố và vị trí chính xác của tải trọng truyền từ cọc vào nền đất. -5- Trong các số liệu do Vesic (1977) công bố đã chỉ rõ rằng cơ chế truyền tải trọng trong cọc chưa được hiểu một cách chính xác [14].

Còn theo kết quả nghiên cứu của Sharma và Joshi (1988), tải trọng tác dụng lên cọc dài 12,2m, đường kính D600mm xuyên qua lớp sét pha cát có 60% tải trọng dùng vào ma sát bên, 40% là lực chống đầu cọc [14]. Niyama và các đồng sự (1989) đã dự đoán rằng lực ma sát bên chiếm khoảng 46% lực tổng cộng tính bằng phương pháp Capwap, chiếm 10% tính bằng phương pháp tĩnh [14]. Cơ chế truyền tải trọng giữa cọc và đất nền phụ thuộc vào chiều dài cọc và các cấp tải trọng. Do đó, chuyển vị chịu ảnh hưởng của cơ chế truyền tải trọng chỉ có thể xác định một cách gần đúng.

Theo Shamsher Prakash – Hari D.Sharma, chuyển vị lún của cọc dưới tác dụng của thành phần ma sát bên là nhỏ, không vượt quá 5mm cho tất cả các loại đất, loại cọc và kích thước cọc bất kỳ [14]. Trong khi đó, chuyển vị lún do nén lớp đất dưới mũi cọc là lớn, phụ thuộc nhiều vào loại đất, loại cọc và kích thước cọc. Như vậy, để giải quyết bài toán xác định độ lún của móng cọc, trước tiên cần thiết giải quyết các vấn đề cơ bản sau: - Chuyển vị do ma sát giữa đất và cọc trong phạm vi chiều dài cọc và chuyển vị do nén lớp đất dưới mũi cọc - Cơ chế truyền tải trọng của cọc vào đất. Có nhiều phương pháp dự tính độ lún của cọc đã được đề nghị, tuy nhiên, việc xác định độ lún của móng cọc dù là theo xu hướng bán kinh nghiệm, kinh nghiệm hay dựa trên kết quả thí nghiệm thực tế đều có thể tổng quát đưa về một trong hai trường hợp sau: 1.

Các phương pháp ước lượng độ lún áp dụng cho cọc đơn. Các phương pháp ước lượng độ lún áp dụng cho nhóm cọc. Theo [14], độ lún của cọc đơn là tổng của hai thành phần: - Độ lún tức thời do tác dụng của tải trọng sử dụng gây ra. -6- - Độ lún cố kết lâu dài xảy ra do tải trọng làm cho áp lực lỗ rỗng giảm dần, ứng suất hữu hiệu tăng dần gây độ lún.

Nói chung, độ lún tức thời do kết quả nén đàn hồi của đất. Thành phần này giữ vai trò quan trọng trong chuyển vị tổng cộng đối với đất dính bão hòa nước hoặc đất dính quá cố kết bão hòa nước. Các phương pháp đánh giá độ lún dùng cho đất rời cũng có thể dùng để tính toán chuyển vị tức thời cho đất sét có đặc trưng thích hợp. Đối với nhóm cọc, sự làm việc của nhóm cọc phụ thuộc vào: cách thức truyền tải trọng lên đất, đặc tính của đất và khả năng chịu tải tới hạn.

Độ lún của nhóm cọc trong đất cát chủ yếu là do độ lún đàn hồi. Độ lún của nhóm cọc trong đất sét bao gồm cả độ lún đàn hồi và độ lún cố kết. Độ lún đàn hồi chủ yếu xảy ra trong đất sét quá cố kết, độ lún cố kết xảy ra chủ yếu trong đất sét cố kết thường [4]. Phƣơng pháp xác định độ lún của cọc đơn 1.

Độ lún của cọc đơn ngàm trong đất sét theo Davis - Poulos (1968) [13] Độ lún cọc đơn trong lớp đất dính có chiều dày hữu hạn, dưới nó là lớp đất cứng không chịu nén được xác định theo biểu thức sau: Q Si  Ip (1.Es (1  v )(1  2v ) 1 Trong đó: Es   (1.2) mv (1  v ) mv Với: Q - Tải trọng tác dụng lên đầu cọc. L - Chiều dài cọc. Es - Module đàn hồi thoát nước.  - Hệ số Poisson ( bằng 0,4 cho sét quá cố kết và 0,2 cho sét thường).

mv - hệ số biến đổi thể tích.  - Hệ số chuyển đổi từ nén không nở hông sang nén có nở hông. -7- Ip - Hệ số ảnh hưởng phụ thuộc vào tỷ số L/B và H/B.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá độ lún của móng cọc trong địa kỹ thuật xây dựng" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp và tiêu chuẩn đánh giá độ lún của móng cọc, một yếu tố quan trọng trong thiết kế và thi công công trình. Tác giả phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến độ lún, từ đó đưa ra các giải pháp tối ưu nhằm đảm bảo tính ổn định và an toàn cho công trình. Bài viết không chỉ giúp các kỹ sư và sinh viên ngành xây dựng hiểu rõ hơn về vấn đề này mà còn cung cấp những kiến thức thiết thực để áp dụng vào thực tiễn.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về các giải pháp thiết kế móng cọc, hãy tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu lựa chọn thông số thiết kế cọc đất xi măng xử lý nền đường ở Sóc Trăng - Trà Vinh. Ngoài ra, để tìm hiểu về các phương pháp tính toán móng cọc, bạn có thể xem bài viết File excel tính toán móng cọc nhồi cọc ép theo TCVN 10304:2014. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu giải pháp gia cố nền cho các công trình dân dụng khu vực thành phố Sóc Trăng cũng sẽ cung cấp thêm thông tin hữu ích về các giải pháp gia cố nền trong xây dựng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực địa kỹ thuật xây dựng.