MỞ ĐẦU Những năm gần đây đã chứng kiến nhu cầu thẩm mỹ nha khoa ngày càng tăng kèm theo những lo ngại gia tăng liên quan đến dị ứng kim loại [25], dẫn đến việc sử dụng phục hồi không chứa kim loại, hiện đang đƣợc kỳ vọng sẽ tái tạo không chỉ màu sắc và độ bóng của răng tự nhiên mà còn độ trong tự nhiên. Phục hồi không chứa kim loại là lựa chọn lâm sàng phù hợp cho các phục hồi gián tiếp vì tính tƣơng hợp sinh học, tính chất cơ học tuyệt vời và tính thẩm mỹ tối ƣu [23], [28]. Phục hình toàn sứ đã đƣợc sử dụng rộng rãi cho mão răng, cầu răng, inlay, onlay và mặt dán veneer ở cả vùng răng trƣớc và sau. Do đó, tính chất cơ học và thẩm mỹ của chúng có tầm quan trọng.
Hiện nay, với các phƣơng pháp xử lý khác nhau, nhƣ chế tác sứ thiêu kết, ép nóng và công nghệ thiết kế/sản xuất hỗ trợ máy tính (CAD/CAM), đƣợc áp dụng để xử lý các vật liệu sứ khác nhau. Trong giai đoạn đầu, nhiều hệ thống toàn sứ đƣợc giới thiệu không thể đạt đƣợc phục hồi đáng tin cậy. Rất nhiều sự phát triển đáng kể trong vật liệu toàn sứ dẫn đến việc hình thành các phục hình giống với răng thật đạt đƣợc kết quả lâu dài. Trong số đó, lithium disilicate là một phân loại của sứ thủy tinh với độ bền cao nhƣng vẫn duy trì tính thẩm mỹ tốt và tính tƣơng thích sinh học [33], [34].
Hiện nay, lithium disilicate là một trong những vật liệu sứ đƣợc sử dụng phổ biến nhất trong nha khoa. Độ trong suốt cao của sứ thủy tinh lithium disilicate làm chúng trở thành sự lựa chọn vật liệu để phục hồi răng trƣớc [14], [19]. Năm 2005, sứ thuỷ tinh dài đƣợc giới thiệu là một loại sứ thủy tinh lithium disilicate, đƣợc ứng dụng rộng rãi đạt tỉ lệ thành công 96% trong thực hành lâm sàng cho đến nay. Với sự phát triển không ngừng của công nghệ vật liệu, gần đây các nhà nghiên cứu đã tiến hành nghiên cứu và phát triển dòng sứ lithium disilicate mới, trong 1.
đó, sứ thuỷ tinh ngắn với những cải tiến về cấu trúc vi mô giúp phân tán đều mật độ các tinh thể. Các thông số đƣợc đƣa ra bởi nhà sản xuất cho thấy sự cải tiến về tính chất cơ học nhƣ độ bền uốn, độ kháng mài mòn. của vật liệu so với sứ thủy tinh lithium disilicate trƣớc đây [7],[26]. Tuy nhiên, vì là vật liệu mới, có rất ít nghiên cứu với độ tin cậy lâm sàng vì các dữ liệu về tính chất vật lý của chúng đƣợc công bố riêng bởi các nhà sản xuất.
Trong quy trình xử lý mặt dán sứ, xoi mòn bằng acid hydrofluoric (HF) là một quá trình động học làm thay đổi cấu trúc cơ học, bề mặt của sứ. Về cơ bản, HF phản ứng với pha thủy tinh, loại bỏ chọn lọc và làm lộ cấu trúc tinh thể [8]. Tuy nhiên, việc xoi mòn quá mức có thể làm yếu sứ thủy tinh cũng nhƣ tạo các lỗ hổng trên bề mặt liên kết của phục hình răng sứ. Vì thế, nhiều nghiên cứu chứng minh rằng bề mặt xốp mong muốn cho sứ lithium disilicate đạt đƣợc bằng cách xoi mòn HF 5% trong 20 giây [9], [18], [29], [35].
Do đó, để hiểu rõ hơn các vấn đề này và cung cấp các bằng chứng giúp các Bác sĩ có thể lựa chọn vật liệu phù hợp lâm sàng nhất, mục tiêu của nghiên cứu này là so sánh một số đặc tính cơ học (độ cứng Vickers, độ bền uốn) của hai loại sứ ép thủy tinh lithium disilicate trƣớc và sau khi xử lý HF 5%. Câu hỏi nghiên cứu: Liệu xoi mòn bằng HF 5% có làm thay đổi đặc tính cơ học của hai loại sứ lithium disilicate đó hay không? Mục tiêu chuyên biệt: 1. So sánh độ cứng Vickers của sứ GC Initial Lisi Press và IPS e.max Press trƣớc và sau khi xử lý HF 5% trong 20 giây. Đánh giá bề mặt của sứ GC Initial Lisi Press và IPS e.max trƣớc và sau khi xử lý HF 5% trong 20 giây dƣới kính hiển vi điện tử quét.
So sánh độ bền uốn của sứ GC Initial Lisi và IPS e.max Press trƣớc và sau khi xử lý HF 5% trong 20 giây và quan sát giao diện sau khi gãy dƣới kính hiển vi điện tử quét. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 TỔNG QUAN VỀ SỨ NHA KHOA Nha khoa phục hồi đã trải qua một cuộc cách mạng hơn 30 năm không chỉ liên quan đến sự ra đời của các vật liệu và kỹ thuật mới, mà còn liên quan đến việc ứng dụng chúng thực thể. Các nguyên tắc phục hồi cho đến ngày nay chủ yếu dựa vào kết quả lâm sàng, hơn là kết quả thẩm mỹ mà vật liệu mang lại. Đƣợc cho là mang đến độ bền lâu dài, phục hồi bằng hợp kim vàng và amalgam đƣợc sử dụng rộng rãi cho cả răng trƣớc và răng sau, dù không mang đến sự hài lòng về thẩm mỹ cho bệnh nhân.
Sự ra đời của hệ thống sứ-kim loại, đã có sự gia tăng phục hồi bằng sứ bởi đây là vật liệu thẩm mỹ với tính chất tối ƣu dựa trên dải màu cũng nhƣ hiệu ứng trong mờ. Tuy nhiên, do có sự xuất hiện của kim loại gây ảnh hƣởng đến thẩm mỹ của phục hồi bởi sự giảm khả năng truyền thụ ánh sáng qua sứ, điều này gây nên hiện tƣợng đen đƣờng viền nƣớc phục hồi [27]. Nhƣợc điểm này, cùng với những yêu cầu nâng cao thẩm mỹ và cách mạng vật liệu sứ, đã thúc đẩy hình thành một loại sứ thẩm mỹ, đầy đủ các chức năng và bền chắc. Trong quá trình tìm kiếm vật liệu phục hồi lý tƣởng, các loại sứ nha khoa đã trở nên hấp dẫn vì tính tƣơng hợp sinh học, độ ổn định màu sắc lâu dài, độ bền hóa học, khả năng chống mài mòn và khả năng tạo hình dạng chính xác, mặc dù trong một số trƣờng hợp, một trong những vấn đề của sứ là đòi hỏi chi phí cao.
thiết bị chế tác và đào tạo chuyên biệt cho kỹ thuật viên. Gần đây, khi đƣợc chỉ định đúng, vật liệu sứ có thể đƣợc chọn làm phục hình với khả năng tái tạo các hiệu ứng quang học phức tạp của răng tự nhiên, cũng nhƣ mô phỏng và khôi phục độ cứng của răng, thiết lập lại các đặc tính cơ học của nó.1 Định nghĩa Thuật ngữ "sứ" có nguồn gốc từ Hi Lạp, Keramos, có nghĩa là vật liệu nung. Thuật ngữ ceramic dùng để chỉ các sản phẩm đƣợc làm từ vật liệu vô cơ không kim loại đƣợc xử lý bằng cách nung ở nhiệt độ cao để đạt đƣợc các đặc tính mong muốn [3], [27]. Thuật ngữ porcelain hạn chế hơn đề cập đến các loại gốm sứ làm từ nguyên liệu thô đƣợc tạo ra bằng cách trộn sét trắng (aluminosilicate hydrat hóa), thạch anh (silica) và đá trƣờng thạch (potasium và natri aluminosilicates) và nung ở nhiệt độ cao.
Porcelain ngày nay đƣợc dùng với tên gọi sứ trƣờng thạch trong nha khoa, là vật liệu thẩm mỹ nhất nhƣng cũng yếu nhất trong các loại sứ[3]. Sứ nha khoa là một sản phẩm dùng trong nha khoa phục hồi, có bản chất là vật liệu vô cơ không kim loại, trải qua nung ở nhiệt độ cao để đạt đƣợc đặc tính mong muốn[1], [3]. Sứ đƣợc đặc trƣng bởi tính trơ, cứng, chịu nhiệt và tƣơng hợp sinh học. Tuy nhiên, sứ thƣờng giòn, yếu về sức căng và hiệu suất của chúng phụ thuộc nhiều vào cấu trúc vi mô và chất lƣợng xử lý từ các thành phần thô cho đến bƣớc nhuộm hoặc phủ bóng cuối cùng [3].2 Phân loại Sứ nha khoa có thể đƣợc phân loại theo nhiều cách khác nhau nhƣ: phƣơng pháp chế tạo vật liệu sứ, ứng dụng của chúng hoặc theo pha tinh thể.
Đặc tính cơ học và quang học của sứ có thể bị ảnh hƣởng bởi thành phần và kỹ thuật chế tác, vì vậy cần có những hiểu biết đúng đắn về bản chất các loại sứ này sẽ giúp các nhà lâm sàng chọn lựa đúng đắn trong từng trƣờng hợp cụ thể. Giống nhƣ kim loại, sứ có cấu trúc tinh thể 3-D, nhƣng chúng phức tạp hơn nhiều so với kim loại vì chúng cần chứa các loại nguyên tử khác nhau, duy trì tính trung hòa điện tích trong từng đơn vị và đạt đƣợc kết cấu hiệu quả cao nhất. Sứ nha khoa hiện nay dựa trên silicat ([SiO4]4-), nhôm (Al2O3) và zirconia (ZrO2). Phân loại theo cấu tạo: Sứ feldspathic: Thành phần gồm: đá trƣờng thạch (feldspar) ~75%, thạch anh (quartz) ~25%.
Cấu tạo nhiều pha, tỉ lệ pha tinh thể thấp (<30%) không đƣợc kiểm soát về mặt cấu trúc. Đặc điểm của loại sứ này là vật liệu ra đời sớm nhất, có độ trong suốt cao nhất nhƣng cũng là vật liệu dễ dòn, lỗ rỗ do các tinh thể bị chia cách bởi các pha thủy tinh và không thể liên kết với nhau. Vì vậy sứ feldspathic có đặc tính thẩm mỹ cao nhƣng độ bền cơ học thấp và rất thay đổi [1]. Sứ feldspathic đƣợc chế tạo bằng tay, trải qua quá trình thiêu kết để chế tác phục hình.
Nhờ có độ trong mờ và tính thẩm mỹ cao của vật liệu tạo ra cảm giác nhƣ răng tự nhiên. Do đó ứng dụng chính của sứ feldspathic ngày nay đƣợc dùng làm sứ bề mặt phủ trên sƣờn kim loại, sƣờn sứ hay mặt dán sứ cho vùng răng trƣớc[3], [11], [12].1: Gia công sứ trường thạch Sứ thủy tinh: Thành phần gồm có nhiều pha, pha tinh thể > 50-90%. Sự khác nhau giữa mỗi loại sứ thủy tinh nằm ở tỉ lệ pha tinh thể và loại tinh thể. Quá trình 6.
tinh thể hóa đƣợc kiểm soát về mặt cấu trúc do đó các tinh thể liên kết với nhau có quy luật, với pha thủy tinh có vai trò kết dính. Nhờ đó mà sứ thủy tinh ít lỗ rỗ mà vẫn giữ đƣợc độ thẩm mỹ cao[1]. Do vẻ ngoài thẩm mỹ cao, gốm thủy tinh thƣờng đƣợc sử dụng - chủ yếu ở vùng phía trƣớc, làm sứ ép cho khung sƣờn mão, mặt dán sứ. Ngày nay với những cải thiện về cấu trúc vi mô mà sứ thuỷ tinh còn đƣợc dùng nhiều hơn vào các phục hồi răng sau trong những trƣờng hợp phục hồi xâm lấn tối thiểu nhờ ƣu điểm kết hợp với hệ thống keo dán chuyên dụng làm tăng khả năng lƣu giữ trên lâm sàng.
Sứ oxid: Thành phần với trên 95% pha tinh thể, thƣờng là Alumina (Al2O3) hoặc Zirconia (ZrO2). Cấu tạo thƣờng đơn pha, không có pha thủy tinh. Đặc điểm của loại sứ này kém thẩm mỹ, nhƣng có độ bền cao, không lỗ rỗ. Trong trạng thái thiêu kết hoàn toàn, vật liệu rất bền chắc đáp ứng yêu cầu thay thế các phục hình có chứa kim loại, tuy nhiên lại rất khó gia công.