Đánh giá điều kiện địa chất công trình khu vực cầu bến nghé quận 1 tp hcm

Đánh giá địa chất công trình khu vực cầu Bến Nghé, Quận 1, TP.HCM. Phân tích chi tiết điều kiện địa chất, phục vụ thiết kế và xây dựng công trình bền vững.

Chuyên ngành

Địa chất học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ án tốt nghiệp

2017

47
2
1

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan điều kiện địa chất công trình cầu Bến Nghé Q1

Việc đánh giá điều kiện địa chất công trình khu vực cầu Bến Nghé Quận 1 TP.HCM là một nhiệm vụ nền tảng, quyết định đến sự an toàn, ổn định và chi phí của dự án cống kiểm soát triều. Khu vực này, nằm trên rạch Bến Nghé, là ranh giới tự nhiên giữa Quận 1 và Quận 4, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ chế độ thủy văn phức tạp của sông Sài Gòn. Địa hình tổng thể của khu vực thuộc dạng đồng bằng thấp, với cao độ trung bình chỉ từ 1m đến 2m, đặc trưng cho vùng chuyển tiếp giữa Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Về mặt địa chất, khu vực này được cấu thành chủ yếu bởi các trầm tích Đệ Tứ (Quaternary) có nguồn gốc sông-biển hỗn hợp, bao gồm các hệ tầng Holocene và Pleistocene. Theo tài liệu nghiên cứu của Bùi Trọng Nhân (2017), cấu trúc địa tầng từ trên xuống bao gồm các lớp đất san lấp, bùn sét hữu cơ yếu, và xen kẽ các lớp sét pha, cát có độ chặt và khả năng chịu tải tăng dần theo độ sâu. Việc hiểu rõ các đặc điểm này là bước đầu tiên và quan trọng nhất trong việc lập báo cáo địa chất cầu Bến Nghé, từ đó đưa ra các phương án thiết kế móng phù hợp. Sự phân bố không đồng nhất của các lớp đất và sự hiện diện của lớp bùn sét dày đặt ra nhiều thách thức kỹ thuật. Do đó, một công tác khảo sát địa chất công trình chi tiết, tuân thủ các tiêu chuẩn khảo sát địa chất TCVN, là yêu cầu bắt buộc để đảm bảo tính chính xác của các số liệu đầu vào cho quá trình thiết kế và thi công.

1.1. Vị trí địa lý và đặc điểm địa hình khu vực nghiên cứu

Công trình cống kiểm soát triều cầu Bến Nghé tọa lạc trên rạch Bến Nghé, một nhánh quan trọng của sông Sài Gòn, đóng vai trò là ranh giới hành chính giữa trung tâm Quận 1 và Quận 4. Địa hình khu vực này là địa hình tích tụ dạng bãi bồi, tương đối bằng phẳng với cao độ mặt đất thay đổi không lớn, chủ yếu từ +0.3m đến +2m. Đặc điểm này khiến khu vực rất nhạy cảm với chế độ thủy triều bán nhật triều không đều của sông Sài Gòn, thường xuyên bị ngập khi triều cường. Bề mặt khu vực được bao quanh bởi các công trình giao thông, nhà dân và các tòa cao ốc, tạo ra tải trọng tĩnh và động đáng kể lên nền đất.

1.2. Phân tích cấu trúc địa tầng khu vực trung tâm Sài Gòn

Dựa trên các tài liệu khoan và bản đồ địa chất công trình TP.HCM, cấu trúc địa tầng khu vực trung tâm Sài Gòn nói chung và khu vực Bến Nghé nói riêng khá phức tạp. Lớp trên cùng là các trầm tích Holocene (Qiv), bao gồm đất san lấp và lớp bùn sét (hệ tầng Cần Giờ - amQ₂²⁻³cg) có màu xám xanh, xám đen, trạng thái chảy, chứa nhiều hữu cơ và có tính nén lún rất cao. Bên dưới là các trầm tích Pleistocene (Qı-III) với các hệ tầng như Bình Chánh (amQ₂¹⁻²bc), Củ Chi (amQ₁³cc), và Thủ Đức (aQ₁²⁻³tđ), đặc trưng bởi sự xen kẽ của các lớp sét pha, á sét có độ dẻo từ mềm đến cứng và các lớp cát hạt mịn đến trung có kết cấu chặt vừa. Sự phân bố này cho thấy nền đất có sự phân hóa rõ rệt về tính chất cơ lý theo chiều sâu, đòi hỏi phải có giải pháp móng sâu để truyền tải trọng xuống các tầng đất tốt hơn.

II. Thách thức từ đặc điểm nền đất Quận 1 và khu vực lân cận

Thách thức lớn nhất khi xây dựng tại khu vực cầu Bến Nghé chính là đặc điểm nền đất Quận 1 với sự hiện diện của lớp đất yếu trên bề mặt. Lớp bùn sét thuộc hệ tầng Holocene, với chiều dày trung bình từ 1,6m đến 2,8m, có sức chịu tải cực kỳ kém (chỉ số SPT trung bình là 1.1), độ rỗng lớn và tính nén lún rất cao. Bất kỳ tải trọng nào tác động trực tiếp lên lớp đất này cũng sẽ gây ra độ lún của công trình vượt quá giới hạn cho phép. Thêm vào đó, yếu tố địa chất thủy văn TP.HCM cũng là một vấn đề đáng quan ngại. Mực nước ngầm trong khu vực thường nằm rất nông, có quan hệ trực tiếp với mực nước sông Sài Gòn, gây ra trạng thái bão hòa nước liên tục cho các lớp đất. Điều này làm giảm cường độ kháng cắt của đất và tăng áp lực đẩy nổi, ảnh hưởng tiêu cực đến sức chịu tải của đất khu vực sông Sài Gòn. Các hiện tượng địa chất động lực như lầy hóa và lún nền do quá trình đô thị hóa cũng làm gia tăng rủi ro. Chính vì vậy, việc phân tích kỹ lưỡng các thách thức này là cơ sở để đề xuất các nền đất yếu và giải pháp xử lý hiệu quả, đảm bảo sự ổn định lâu dài cho công trình.

2.1. Phân tích các lớp đất yếu Bùn sét và sét pha dẻo mềm

Theo kết quả phân tích mẫu đất, lớp 1 (bùn sét) có độ ẩm tự nhiên trung bình lên tới 76,48%, hệ số rỗng 2,096 và độ sệt B = 1,95 (trạng thái chảy). Lớp này không có khả năng chịu tải và cần phải được loại bỏ hoặc xuyên qua. Ngay dưới lớp bùn là lớp 2 (sét pha cát), mặc dù tốt hơn nhưng vẫn ở trạng thái dẻo mềm đến dẻo cứng (độ sệt B = 0,55) và có chỉ số SPT trung bình là 8.3. Lớp đất này vẫn có khả năng gây lún đáng kể cho các công trình có tải trọng lớn nếu không được xử lý móng phù hợp.

2.2. Ảnh hưởng của địa chất thủy văn và mực nước ngầm cao

Mực nước ngầm trong khu vực chỉ cách mặt đất dưới 2m và biến động theo thủy triều. Điều này có nghĩa là nền đất luôn trong tình trạng bão hòa nước, làm giảm ứng suất hiệu quả và suy giảm sức kháng cắt của đất. Nước ngầm có thể có tính xâm thực đối với bê tông và cốt thép, đòi hỏi phải sử dụng các vật liệu chống ăn mòn. Trong quá trình thi công, mực nước ngầm cao cũng gây ra nhiều khó khăn cho công tác đào hố móng, hố khoan cọc, đòi hỏi phải có các biện pháp hạ mực nước ngầm hoặc thi công trong điều kiện có nước.

III. Bí quyết khảo sát địa chất công trình cầu Bến Nghé hiệu quả

Để có được một báo cáo địa chất cầu Bến Nghé chính xác, công tác khảo sát địa chất công trình phải được thực hiện một cách bài bản và khoa học. Phương pháp luận nghiên cứu được áp dụng bao gồm ba giai đoạn chính: thu thập tài liệu, khảo sát thực địa và phân tích tổng hợp. Giai đoạn đầu tiên tập trung vào việc thu thập các tài liệu sẵn có như bản đồ địa chất, báo cáo của các dự án lân cận và các nghiên cứu đã công bố. Giai đoạn hai là công tác hiện trường, bao gồm việc định vị và tiến hành khoan khảo sát địa chất. Các hố khoan được bố trí hợp lý để bao quát toàn bộ diện tích công trình, với chiều sâu đủ để xuyên qua các lớp đất yếu và vào tầng chịu lực ổn định. Trong quá trình khoan, việc lấy mẫu đất nguyên dạng và không nguyên dạng được thực hiện liên tục. Đồng thời, các thí nghiệm hiện trường SPT (Thí nghiệm Xuyên Tiêu chuẩn) được tiến hành định kỳ để đánh giá sơ bộ độ chặt và sức kháng của đất. Giai đoạn cuối cùng là xử lý số liệu tại phòng thí nghiệm để xác định các chỉ tiêu cơ lý chi tiết của từng lớp đất theo hệ thống tiêu chuẩn khảo sát địa chất TCVN. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp này đảm bảo các số liệu địa chất Quận 1 thu thập được có độ tin cậy cao, làm cơ sở vững chắc cho việc thiết kế móng.

3.1. Quy trình khoan khảo sát địa chất và lấy mẫu đất đá

Công tác khoan khảo sát địa chất được thực hiện trên sà lan do công trình nằm trên kênh Bến Nghé. Quy trình khoan tuân thủ TCVN 9437:2012. Mẫu đất được lấy trung bình 2m một lần và tại các vị trí có sự thay đổi địa tầng. Mẫu nguyên dạng được bảo quản trong ống mẫu chuyên dụng, bịt kín hai đầu bằng sáp để giữ nguyên độ ẩm và kết cấu tự nhiên. Mẫu không nguyên dạng được thu thập để thí nghiệm các chỉ tiêu phân loại.

3.2. Vai trò của thí nghiệm hiện trường SPT và thí nghiệm CPT

Thí nghiệm hiện trường SPT (theo TCVN 9351:2012) là thí nghiệm không thể thiếu, được thực hiện trong lòng hố khoan để xác định chỉ số N-SPT. Chỉ số này phản ánh sức kháng xuyên của đất, từ đó có thể nội suy ra các đặc trưng quan trọng như góc ma sát trong, mô đun biến dạng và ước tính sơ bộ sức chịu tải của đất. Mặc dù trong tài liệu gốc không đề cập thí nghiệm CPT, đây cũng là một phương pháp hiệu quả để xác định sự phân lớp đất một cách liên tục và chi tiết, thường được kết hợp với SPT để có cái nhìn toàn diện nhất.

3.3. Phân tích mẫu đất trong phòng thí nghiệm theo tiêu chuẩn TCVN

Các mẫu đất sau khi lấy từ hiện trường được vận chuyển về phòng thí nghiệm để phân tích mẫu đất. Các thí nghiệm chính bao gồm: xác định thành phần hạt (TCVN 4198:2014), độ ẩm và dung trọng (TCVN 4196:2012, TCVN 4202:2012), giới hạn Atterberg (giới hạn chảy, giới hạn dẻo), thí nghiệm nén ba trục (CU) để xác định lực dính (c) và góc ma sát trong (φ), và thí nghiệm nén cố kết để xác định tính nén lún. Các kết quả này là cơ sở pháp lý và kỹ thuật để tính toán, thiết kế nền móng.

IV. Kết quả phân tích địa chất 5 lớp đất nền tại cầu Bến Nghé

Kết quả khảo sát địa chất công trình tại cầu Bến Nghé cho thấy cấu trúc nền đất đến độ sâu 60m có thể phân chia thành 5 lớp đất chính với các đặc tính cơ lý riêng biệt. Việc phân tích chi tiết các lớp đất này là chìa khóa để hiểu rõ đặc điểm nền đất Quận 1 và lựa chọn giải pháp móng phù hợp. Lớp 1 là bùn sét, trạng thái chảy, dày trung bình 1,7m, có sức chịu tải rất kém và không thể sử dụng làm lớp đặt móng. Lớp 2 là sét pha cát, trạng thái dẻo mềm đến dẻo cứng, dày trung bình 4,4m, khả năng chịu lực trung bình. Lớp 3 là lớp cát hạt vừa, màu tím nhạt, kết cấu chặt vừa, dày trung bình 24,3m với chỉ số SPT trung bình là 15.5; đây là lớp đất tương đối tốt. Lớp 4 là sét, trạng thái nửa cứng đến cứng, màu nâu đỏ, dày trung bình 15,3m, có sức chịu tải tốt với chỉ số SPT trung bình là 28. Lớp 5, nằm ở độ sâu lớn, là cát hạt mịn đến trung, kết cấu chặt, chỉ số SPT trung bình là 31.3, là lớp chịu lực lý tưởng cho các giải pháp móng sâu. Các số liệu địa chất Quận 1 này cho thấy rõ sự cần thiết phải sử dụng móng cọc để truyền tải trọng công trình xuống các lớp 3, 4 và 5, bỏ qua hoàn toàn ảnh hưởng tiêu cực của hai lớp đất yếu bên trên.

4.1. Đặc điểm các chỉ tiêu cơ lý của 5 lớp đất nền chính

Bảng tổng hợp chỉ tiêu cơ lý (Bảng 3.6, Bùi Trọng Nhân, 2017) cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Lớp 1 (Bùn sét): W = 76,48%, Ip = 21,67, N-SPT = 1. Lớp 2 (Sét pha): W = 23,81%, Ip = 12,24, N-SPT = 8.3. Lớp 3 (Cát): γ = 2,03 g/cm³, N-SPT = 15.5. Lớp 4 (Sét): γ = 2,053 g/cm³, Ip = 19,21, N-SPT = 28. Lớp 5 (Cát): γ = 2,062 g/cm³, N-SPT = 31.3. Các chỉ số này là dữ liệu đầu vào không thể thiếu cho việc tính toán sức chịu tải của cọc.

4.2. Đánh giá sức chịu tải của đất nền qua chỉ số N SPT

Chỉ số N-SPT tăng dần theo độ sâu, phản ánh đúng quy luật nén chặt tự nhiên của trầm tích. Lớp 1 và 2 có N-SPT thấp (<10), cho thấy đây là các lớp đất yếu đến trung bình. Lớp 3 có N-SPT từ 10-30, thuộc loại đất cát chặt vừa. Lớp 4 và 5 có N-SPT > 25, thuộc loại đất sét cứng và cát chặt. Dựa vào chỉ số này, có thể kết luận rằng mũi cọc nên được đặt vào lớp 4 hoặc lớp 5 để huy động tối đa sức chịu tải của đất.

V. Giải pháp xử lý nền móng cọc cho cầu Bến Nghé tối ưu nhất

Từ các phân tích về điều kiện địa chất công trình, giải pháp nền móng tối ưu cho công trình cống kiểm soát triều Bến Nghé là sử dụng móng cọc sâu. Phương án này giúp truyền toàn bộ tải trọng của công trình xuyên qua các lớp bùn sét và sét pha yếu ở trên, tựa vào các lớp cát và sét cứng có khả năng chịu lực tốt hơn ở dưới sâu. Hai phương án cọc chính được xem xét là cọc ép và cọc khoan nhồi. Sau khi so sánh ưu nhược điểm, giải pháp cọc khoan nhồi được lựa chọn. Lý do chính là cọc khoan nhồi có thể thi công với đường kính và chiều sâu lớn, tạo ra sức chịu tải vượt trội, phù hợp với công trình quy mô cấp I. Hơn nữa, thi công cọc khoan nhồi ít gây chấn động và tiếng ồn, giảm thiểu ảnh hưởng đến các công trình lân cận trong khu vực trung tâm đông đúc. Tác động địa chất đến móng cọc được tính toán cẩn thận dựa trên các chỉ tiêu cơ lý và số liệu SPT. Việc tính toán xác định chiều dài và đường kính cọc là bước quyết định để đảm bảo cọc làm việc hiệu quả, vừa đủ khả năng chịu tải, vừa tối ưu về mặt kinh tế. Đây là một ví dụ điển hình về việc áp dụng nền đất yếu và giải pháp xử lý trong thực tế xây dựng tại TP.HCM.

5.1. So sánh ưu nhược điểm cọc ép và cọc khoan nhồi

Cọc ép có ưu điểm là thi công nhanh, chi phí thấp hơn và dễ kiểm tra chất lượng từng đoạn. Tuy nhiên, sức chịu tải hạn chế và khó thi công trong điều kiện địa chất phức tạp, dễ bị lệch. Ngược lại, cọc khoan nhồi có sức chịu tải rất lớn, thi công êm, phù hợp với công trình lớn. Nhược điểm là chi phí cao, quy trình thi công phức tạp, đòi hỏi giám sát chặt chẽ để tránh các khuyết tật như thắt eo, rỗ bê tông. Với tải trọng lớn của cống kiểm soát triều, cọc khoan nhồi là lựa chọn an toàn và hợp lý hơn.

5.2. Tính toán thiết kế móng cọc khoan nhồi cho công trình

Dựa trên tải trọng thiết kế P = 850 tấn, đồ án đã đề xuất phương án sử dụng cọc khoan nhồi đường kính D = 0,8m và chiều dài L = 14,5m. Chiều dài này đảm bảo mũi cọc xuyên qua lớp 1, 2 và cắm sâu vào lớp 3 (cát chặt vừa). Sức chịu tải cho phép của cọc được tính toán theo cả hai phương pháp: dựa trên chỉ tiêu cơ lý đất nền và dựa trên kết quả thí nghiệm SPT. Kết quả tính toán từ cả hai phương pháp đều cho thấy với bố trí 4 cọc cho một móng, hệ thống nền móng hoàn toàn đáp ứng yêu cầu chịu lực với hệ số an toàn cao.

VI. Kết luận Hướng đi cho địa chất công trình trung tâm HCM

Nghiên cứu về điều kiện địa chất công trình khu vực cầu Bến Nghé đã cung cấp một cái nhìn toàn diện về các đặc điểm, thách thức và giải pháp kỹ thuật cho việc xây dựng trên nền đất yếu điển hình của TP.HCM. Kết quả khẳng định nền đất khu vực có sự phân tầng rõ rệt, với lớp bùn sét Holocene yếu ở trên và các lớp trầm tích Pleistocene tốt hơn ở dưới. Thách thức chính đến từ tính nén lún cao của lớp đất mặt và ảnh hưởng của mực nước ngầm. Giải pháp sử dụng móng cọc khoan nhồi đường kính 0,8m, dài 14,5m được chứng minh là lựa chọn kỹ thuật hợp lý và an toàn. Thành công của dự án này không chỉ giải quyết vấn đề ngập úng mà còn cung cấp những kinh nghiệm quý báu. Hướng đi trong tương lai cho các dự án tại khu vực trung tâm là cần tiếp tục đầu tư vào công tác khảo sát địa chất công trình một cách chi tiết hơn nữa, kết hợp nhiều phương pháp hiện đại như địa vật lý, thí nghiệm CPT. Việc xây dựng một cơ sở dữ liệu địa chất, một bản đồ địa chất công trình TP.HCM số hóa và cập nhật liên tục sẽ là công cụ vô giá cho các nhà quy hoạch, kiến trúc sư và kỹ sư, giúp tối ưu hóa thiết kế và giảm thiểu rủi ro trong xây dựng.

6.1. Tóm tắt kết quả đánh giá điều kiện địa chất khu vực

Khu vực cầu Bến Nghé có điều kiện địa chất không thuận lợi cho xây dựng do có lớp bùn sét dày 1,7m trên cùng. Các lớp đất tốt hơn (cát chặt vừa, sét cứng) chỉ xuất hiện ở độ sâu dưới 8-9m. Mực nước ngầm cao và biến động theo triều. Các hiện tượng lún, lầy hóa là những rủi ro tiềm tàng. Do đó, mọi công trình tại đây bắt buộc phải sử dụng giải pháp móng sâu.

6.2. Khuyến nghị cho công tác tư vấn địa chất công trình

Đối với các dự án tương tự tại khu vực trung tâm TP.HCM, công tác tư vấn địa chất công trình cần đặc biệt chú trọng. Khuyến nghị tăng cường mật độ hố khoan khảo sát, kết hợp thí nghiệm SPT và CPT để nhận diện chính xác ranh giới các lớp đất. Cần thực hiện các thí nghiệm nén cố kết và nén ba trục đầy đủ để có thông số tính lún và sức chịu tải chính xác. Ngoài ra, việc quan trắc lún và chuyển vị của công trình trong và sau khi thi công là cần thiết để kiểm chứng các giả thiết tính toán và đảm bảo an toàn lâu dài.

20/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU 1. TINH CAP THIET CUA DO AN TOT NGHIEP Dé giai quyét van đề thoát nước, từ năm 2001, TP HCM đã quy hoạch tổng thé hệ thống thoát nước trên địa bàn. Chủ yếu áp dụng các giải pháp nâng cấp cống thoát nước, san nền và kiểm soát triều cục bộ. Quá trình đô thị hóa, biến đổi khí hậu, thiếu vốn.

là các nguyên nhân khiến công tác chống ngập tại TP HCM chưa hiệu quả. Trong dự án giải quyết ngập do triều cường khu vực thành phố Hồ Chí Minh gồm có 6 cống lớn bao gồm các cống kiểm soát triều Bến Nghé, Tân Thuận, Phú Xuân, Mương Chuối, Cây Khô, Phú Định và đê bao ven sông Sài Gòn từ Vàm Thuật đến Sông Kinh - giai đoạn 1. Với tổng kinh phí gần 10. Cống kiểm soát triều cường khu cực cầu Bến Nghé trên địa bàn quận 1 và 4 được xây dựng với kinh phí khoảng 230 tỷ đồng nhằm giảm ngập cho khu trung tâm thành phố.

Theo đề cương thi tuyển thiết kế kiến trúc dự án cống kiểm soát triều Bến Nghé vừa được UBND TP.HCM phê duyệt, cống này nằm trên rạch cùng tên, đoạn bắt đầu từ ngã ba sông Sài Gòn đến ngã ba Rạch Đôi dài khoảng 3,1 km. Cống dự kiến gồm các phần kết cấu chính như thủy công đập ngăn nước: trụ pin, cừ chống thấm, dầm đỡ van, gia cố bảo vệ lòng dẫn; kết cấu cửa van điều tiết nước và thiết bị điều khiển; kết cấu nói tiếp hai bờ; khu quản lý công trình; kết cấu kè bảo vệ phía hạ lưu công trình. Bên cạnh cống này còn được xây dựng một trạm bơm có công suất 12 m°/giây. Công trình cống kiểm soát đang được tiến hành xây dựng Trước tình hình đó, việc nghiên cứu và tìm ra biện pháp để xử lý móng cống kiểm soát phù hợp với công trình và nhu cầu đời sống là nhiệm vụ thiết yếu.

MỤC TIÊU CỦA ĐÒ ÁN TÓT NGHIỆP Đánh giá điều kiện địa chất công trình phục vụ công tác xử lí nền móng cống kiểm soát triều. NỘI DUNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3. Nội dung nghiên cứu Xác định chỉ tiêu cơ lí của đất nền; Phân tích hệ tầng khu vực nghiên cứu; Đánh giá điều kiện địa chất công trình, địa chất thủy văn; 3. Phạm vi nghiên cứu Điều kiện địa chất công trình tại cống kiểm soát triều khu vực cầu Bến Nghé, Quận 1, TP.

Hồ Chí Minh. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU e_ Phương pháp thu thập tài liệu Tìm kiếm và thu thập tài liệu nghiên cứu có sẵn về khu vực cần nghiên cứu: địa tầng, lịch sử nghiên cứu, địa chất công trình, tình hình kinh tế, xã hội, khí hậu - khí tượng, địa chất thủy văn,. e Phuong pháp khảo sát thực địa; Thực hiện các lộ trình khảo sát, các buổi thực địa trong các khoản thời gian trước và trong khi thực hiện công trình nghiên cứu, đưa ra các nhận xét và nhìn nhận về đặc điểm, điều kiện tự nhiên trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. e _ Phương pháp tổng hợp và viết báo cáo Tổng hợp các tài liệu hồ khoan, nghiên cứu các loại bản đồ, tài liệu báo cáo khảo sát địa chất công trình Nhà cao tầng do Tổng Hội Địa Chất Việt Nam, Liên Hiệp Địa Kỹ Thuật Nền Móng Công Trình thực hiện, tham khảo tài liệu cơ học đất, các phương pháp xử lý nền, các đề tài nghiên cứu đã công bố có nội dung liên quan.

TONG QUAN CAC NGHIEN CUU TRONG VA NGOAI NUOC Các nghiên cứu trong nước Trong những năm gần đây, vấn đề về điều kiện địa chất công trình, địa chất thủy văn của khu vực Tp. Hồ Chí Minh được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm và thu được những kết quả tương đối thống nhất về điều kiện địa chất công trình của các khu vực trong nội thành Tp. Hồ Chí Minh. Cụ thể có các nghiên cứu của Nguyễn Việt Kỳ, Nguyễn Mạnh Thủy “Hiện tượng lún bề mặt do khái thác nước dưới đất và biện pháp quan trắc lún tại Tp.

Hồ Chí Minh”. Trần Bá Nam “ Công nghệ tho công xử lý công trình vùng cửa sông ven biển”. Tạp chí phát triển khoa học công nghệ ĐHQG Tp. Hồ Chí Minh 1998.

Đậu Văn Ngọ, Nguyễn Việt Kỳ “ Giải pháp móng cọc khoan nhồi đường kính nhỏ cho nhà cáo tầng khu vực Tp. Hồ Chí Minh”. Ngoài công trình cống kiểm soát triều Bến Nghé. Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh còn có các công trinh nghiên cứu liên quan như cống kiểm soát Tân Thuận, Cây Khô, Mương Chuối, Phú Xuân, Phú Định.

Các nghiên cứu ngoài nước Những tiêu chuẩn thiết kế kết cấu đầu tiên trên thế giới được ban hành ở Mỹ vào những thập kỷ đầu của thể kỷ 20, năm 1910 ACI đưa ra “ Standard Building Regulations for the Use of Reinforced Concrete” con “Standard Speccification for Structural Steel for Buildings” AISC duoc ban hanh vao nam 1923 déu dua trén phương pháp thiết kế theo ứng suất cho phép. Đến nay ở một số quốc giá vẫn duy trì phương pháp thiết kế theo ứng suất cho phép, trong số đó có những nước có nền kinh tế phát triển như Nhật Bản, Án Độ. Đến những năm 1950, thiết kế theo trang thái giới hạn lần đầu được đưa vào tiêu chuẩn Liên Xô và một số nước Châu Âu, sau đó phương pháp này dần được chấp nhận ở nhiều quóc giá khác như Mỹ và Canada vào những năm 1980 và 1990. GIỚI THIỆU KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.

Vị trí địa lý Cống kiêm soát triều Bến Nghé nằm trên rạch Bến Nghé, một nhánh của sông Sài Gòn, là ranh giới hành chính giữa Quận 1 và Quận 4 - Tp Hồ Chí Minh. CÓ TÔ Ủ Pearl Hình 1.1 Vị trí khảo sát cống kiểm soát triều cường cầu Bến Nghé 1. Đặc điểm quy mô dự án Công trình có 1 khoang thông nước rộng 40m, ngưỡng cống có cao trình -3,60m, đỉnh trụ pin +3,00m. Cống gồm 02 trụ pin ở hai bờ trong đó trụ T1 (phía Quận 4) có kết hợp làm trạm bơm.

Nối kết giữa hai trụ pin dưới đáy công trình là dầm van gác lên hai bệ trụ. Cửa van khoang điều tiết là cửa Cung chìm rộng 40m bằng thép không gi, điều khiển bằng xi lanh thủy lực, cao trình đỉnh cửa là +3,00m, cao trình đáy cửa -3,6m. Trạm bơm có lưu lượng thiết kế 12 m”/⁄s gồm 02 tổ máy đặt trong trụ pin T1 bên phía Quận 4. Máy bơm chìm hướng trục, trục đứng với lưu lượng thiết kế 6 m”/s, cột nước thiết kế max 3,64m.

Chống thấm dưới đáy công trình bằng hàng cừ ván thép L=8§m đóng liên tục từ bờ trái sang bờ phải. Gia cố lòng dẫn thượng hạ lưu bằng rọ đá thép bọc PVC dày Im và thảm đá thép bọc PVC dày 0,5m, tổng chiều dài gia cố mối phía 30m từ mép trụ pin. Phía hạ lưu được nạo vét ra đến sông Sài Gòn với chiều rộng 40m, cao trình đáy kênh -3,6m. Gia cố bờ bằng kè mái nghiêng bằng đá xây phù hợp với kết cấu kè hiện hữu, cao độ đỉnh kè +2,20m.

Khu quan lý công trình rộng 400m2 gồm Nhà quản lý cấp 4 rộng 85m”, trạm biến áp, nhà xe, nhà bảo vệ được đặt trong phạm vi khuôn viên ven bờ sông phía Quận 4. Theo quyết định số 853/QĐÐ-BNN-KHCN ngày 06/4/2010 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc Ban hành Tiêu chuẩn kỹ thuật áp dụng trong tính toán Thủy văn, thủy lực Dự án Thủy lợi chống ngập úng khu vực Tp Hồ Chí Minh quy định cấp công trình là cấp I. Đặc điểm địa hình Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong vùng chuyền tiếp giữa miền Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Địa hình tổng quát có dạng thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây.

Vùng cao nằm ở phía Bắc - Đông Bắc và một phần Tây Bắc với dạng địa hình lượn sóng, độ cao trung bình 10-25 m và xen kẽ có những đổi gò độ cao cao nhất tới 32m, như đồi Long Bình Vùng thấp trũng ở phía Nam-Tây Nam và Đông Nam thành phố (thuộc các quận 9, 8,7 và các huyện Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ). Vùng này có độ cao trung bình trên đưới Im và cao nhất 2m, thấp nhất 0,5m. Vùng trung bình, phân bố ở khu vực Trung tâm Thành phố, gồm phần lớn nội thành cũ, một phần các quận 2, Thủ Đức, toàn bộ quận 12 và huyện Hóc Môn. Vùng này có độ cao trung bình 5-10m.

Nhìn chung, địa hình Thành phố Hồ Chí Minh không phức tạp, song cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt. Địa hình vùng dự án là nằm trên địa hình đồng bằng thấp, cao độ từ Im đến 2. Khu vực đo vẽ có một số Cầu giao thông và đường bao chung quanh, ngoài ra khu vực đo vẽ có nhà dân và các toà cao ốc. Đặc điểm khí hậu Quận 1 chịu ảnh hưởng chung của khí hậu Miền Nam: Theo tiêu chuẩn thiết kế (TCXD 49-72).

Khu vực Quận 1 và thành phó Hồ Chi Minh nói chung thuộc phân vùng IVb, vùng khí hậu IV của cả nước. Nằm hoàn toàn vào vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Trong năm có 2 mùa rõ rệt là mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Có tính ôn định cao, những diễn biến khí hậu từ năm này qua các năm khác ít biến động.

Không có thiên tai do khí hậu. Không gặp thời tiết khắc nghiệt quá lạnh hoặc quá nóng. 1 Nhiệt độ trung bình tháng và năm (Trạm Tân Sơn Hòa) ÓC) Năm 2011 2012 2013 2014 2015 Tháng Tháng | 26,9 27,6 27,3 26,0 26,4 Tháng 2 27,6 28,2 29,0 26,9 26,8 Thang 3 28,3 29,5 29,3 29,1 29,0 Thang 4 29,1 29,3 30,4 30,2 29,9 Thang 5 29,5 29,2 29,8 30,5 30,7 Thang 6 28,5 28,7 28,9 28,7 29,2 Thang 7 27,9 28,3 28,1 28,0 28,9 Thang 8 28,4 29,1 28,3 28,4 29,0 Thang 9 28,1 27,5 27,6 28,3 28,6 Thang 10 28,1 28,2 27,7 28,1 28,7 Thang 11 28,1 28,8 28,1 28,8 29,1 Thang 12 27,2 29,1 26,6 27,9 28,6 Binh quan 28,1 28,6 28,4 28,4 28,7 nam Luong mua Mưa theo mùa rõ tệt: Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng I1 chiếm khoảng §1.2 Bảng thống kê lượng mưa trung bình Trạm Tân Sơn Hòa)(mm) Năm 2011 2012 2013 2014 2015 Tháng Thang 1 94 18,0 38,1 2,5 1,6 Thang 2 - 68,7 0,1 22,1 - Thang 3 40,3 36,4 10,1 - 10,2 Thang 4 181,9 144,4 183 111,5 104,4 Thang 5 124,4 72,2 196,8 179,7 104,9 Thang 6 213,1 270,6 173,3 258,0 14,1 Thang 7 281,5 200,4 175,8 234,2 264,4 Tháng 8 244,4 113,4 260,7 353,4 126,9 Tháng 9 2321 407,9 411,2 342,1 504,4 Tháng 10 232,6 434,4 407,4 306,5 339,3 Tháng 11 321,1 912 257,4 1822 174,8 Tháng 12 73,0 254 31,3 50,0 4,6 _— 1953,8 1883,0 1980,5 2042,2 1760.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ