Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về bảo hiểm nhân thọ và chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng trong công tác kinh doanh của công ty. - Chương 2: Đánh giá dịch vụ chăm sóc khách hàng tại công ty TN HH BHN T Prudential VN – Chi nhánh Huế. - Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ chăm sóc khách hàng tại công ty TN HH BHN T Prudential VN – Chi nhánh Huế. Phần III: Kết luận và kiến nghị SVTH: Lê Thị Kim Quy 8 Khoá Luận Tốt ghiệp GVHD: TS.
Hồ Thị Hương Lan PHẦ II: ỘI DU G VÀ KẾT QUẢ GHIÊ CỨU CHƯƠ G 1: CƠ SỞ LÝ LUẬ VÀ THỰC TIỄ VỀ BẢO HIỂM HÂ THỌ VÀ CHẤT LƯỢ G DNCH VỤ CHĂM SÓC KHÁCH HÀ G TRO G CÔ G TÁC KI H DOA H CỦA CÔ G TY 1. Tổng quan về bảo hiểm nhân thọ. Khái niệm và đặc điểm về Bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm nhân thọ là sự cam kết giữa công ty Bảo hiểm với người tham gia bảo hiểm mà trong đó công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả số tiền bảo hiểm cho người tham gia khi người tham gia có những sự kiện đã định trước (chẳng hạn như: chết, thương tật toàn bộ vĩnh viễn, hết hạn hợp đồng, sống đến một thời hạn nhất định). Còn người tham gia Bảo hiểm có trách nhiệm nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng thời hạn.
Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên sơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được xảy ra sự kiện bảo hiểm. Tái bảo hiểm là nghiệp vụ khi một công ty bảo hiểm chuyển nhượng quyền lợi và trách nhiệm với người được bảo hiểm cho một công ty bảo hiểm khác. Bảo hiểm nhân thọ là sản phNm của công ty bảo hiểm nhân thọ nhằm bảo vệ tài chính cho người được bảo hiểm trước các rủi ro liên quan sức khỏe, thân thể và tính mạng Hợp đồng bảo hiểm nhân thọ thường bao gồm các bên: Công ty bảo hiểm, N gười được bảo hiểm, Bên mua bảo hiểm, N gười thụ hưởng bảo hiểm… Đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ Để hiểu rõ đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ cần xem xét trên hai khía cạnh, đó là đặc điểm của bảo hiểm nhân thọ và đặc điểm của sản phNm bảo hiểm nhân thọ. - Hầu hết các hình thức bảo hiểm nhân thọ trừ bảo hiểm tử kỳ thường là sự kết hợp giữa bảo hiểm và tiết kiệm, có thể có chia lãi hoặc không chia lãi.
Việc chỉ ra quyền lợi bảo hiểm của các hình thức bảo hiểm nhân thọ kết hợp giữa bảo vệ và tiết kiệm chắc chắn xảy ra do trong bảo hiểm nhân thọ bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngược nhau: sống hoặc tử vong. SVTH: Lê Thị Kim Quy 9 Khoá Luận Tốt ghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Hương Lan - Bảo hiểm nhân thọ là hình thức bảo hiểm dài hạn. Khác với bảo hiểm phi nhân thọ, thời hạn bảo hiểm thường là 1 năm hoặc ngắn hơn, thời hạn bảo hiểm của các loại hình bảo hiểm nhân thọ thường kéo dài, có thể là hàng chục năm.
Khi kết thúc hợp đồng nếu không có rủi ro, công ty bảo hiểm nhân thọ sẽ thực hiện chi trả quyền lợi đáo hạn bằng tiền cho khách hàng. Đó là khoản tích lũy từ phí bảo hiểm tham gia và lãi suất/ lãi chia (nếu có). Bảo hiểm phi nhân thọ là hình thức bảo hiểm, dành cho cả con người và tài sản khác. Các rủi ro được bảo hiểm phi nhân thọ bao gồm: sinh mạng, sức khỏe, tài sản (xe, nhà cửa, nhà máy.), trách nhiệm pháp lý phát sinh từ thiệt hại do cá nhân gây ra đối với bên thứ ba, tử vong do tai nạn hoặc thương tích.
Tuy nhiên, bảo hiểm phi nhân thọ không có chi trả đáo hạn khi không có sự kiện rủi ro xảy ra, tức là các khoản phí bảo hiểm đã nộp không được hoàn trả lại. Sự cần thiết và tác dụng của bảo hiểm nhân thọ Bảo hiểm nhân thọ mang lại rất nhiều ý nghĩa và quyền lợi cho nền kinh tế - xã hội và người tham gia bảo hiểm: Bảo hiểm nhân thọ liên tục tuyển dụng các đại lý bảo hiểm, chuyên viên tư vấn tài chính và mở rộng phạm vi hoạt động trên khắp cả nước. Điều này không chỉ tạo cơ hội làm việc ổn định cho người lao động, mà còn giảm tỷ lệ thất nghiệp, đảm bảo an sinh xã hội. Bảo vệ tài chính, trọn vẹn an tâm: Khi còn trẻ, chúng ta thường tiết kiệm tiền cho những mục đích như mua sắm, đi du lịch, kinh doanh, kết hôn hoặc sinh con trong tương lai.
Tuy nhiên, khi biến cố bất chợt xảy đến, bạn buộc phải dùng khoản tiền tích lũy để giải quyết gánh nặng tài chính cũng như ổn định cuộc sống. Vì thế, tiền tiết kiệm dù nhiều cách mấy đều có thể biến mất chỉ trong thời gian ngắn. Do đó, tham gia bảo hiểm là giải pháp tốt nhất để duy trì nguồn tài chính trước các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai như tai nạn, bệnh hiểm nghèo… hoặc thậm chí là tử vong (thương tật toàn bộ và vĩnh viễn). Bảo hiểm nhân thọ còn hỗ trợ chi trả các khoản phí bảo hiểm kịp thời trong trường hợp người tham gia bảo hiểm gặp biến cố.
Qua đó thay thế nguồn thu nhập bị tổn thất, giúp những người ở lại nhanh chóng vượt qua các mất mát, đau thương và có thể tiếp tục sống một cuộc sống tốt hơn. SVTH: Lê Thị Kim Quy 10 Khoá Luận Tốt ghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Hương Lan Lấy số đông bù số ít, “mọi người vì một người”: ngoài bảo vệ cuộc sống khi rủi ro bất ngờ xảy đến, bảo hiểm nhân thọ còn san sẻ rủi ro trong cộng đồng bằng cách lấy số đông bù số ít thông qua việc không phải tất cả những người tham gia bảo hiểm đều sẽ gặp rủi ro, bảo hiểm sẽ trích 1 khoản phí gọi là phí bảo hiểm rủi ro của các người tham gia bảo hiểm nhằm để chi trả cho những trường hợp các cá nhân xảy ra rủi ro. Điều này giúp bù đắp những mất mát cho người kém may mắn, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân đều được vững tâm vui sống, theo đuổi ước mơ và hoài bão lớn trong tương lai.
Thông điệp bảo hiểm nhân thọ: “Hành động vì yêu thương” để bảo vệ những giá trị tốt đẹp, từ sức khỏe, gia đình và tương lai yếu tố quyết định đó chính là nguồn tài chính được tích lũy lâu dài. BHN T không phải là phương án dự phòng tài chính trước sự ra đi của một người, thay vào đó BHN T thể hiện tình yêu thương và trách nhiệm với người thân, giúp mỗi thành viên trong gia đình tiếp tục sống, được chu toàn về sức khỏe, tương lai ổn định và cuộc sống vững vàng. Giải pháp đầu tư an toàn, sinh lời hiệu quả: ý nghĩa của BHN T không chỉ dừng lại ở khả năng bảo vệ, mà còn mang lại cơ hội gia tăng tài sản của khách hàng một cách an toàn. N hìn chung, không thể phủ nhận tầm quan trọng của bảo hiểm nhân thọ với người tham gia và cộng đồng xã hội.
N hờ thông điệp ý nghĩa bảo hiểm hiểm mang lại, nhiều người dân đã thay đổi quan điểm và hướng tới cuộc sống tích cực hơn. Các nguyên tắc cơ bản của bảo hiểm N guyên tắc phải trung thực tuyệt đối: Các bên tham gia bảo hiểm cần trung thực tuyệt đối, tin tưởng lẫn nhau. Các nội dung, giao dịch trong giao kết hợp đồng cần được kê khai trung thực, chính xác: + Đối với người tham gia bảo hiểm: N gười tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ phải khai báo đầy đủ và chính xác các thông tin liên quan đến giao kết hợp đồng bảo hiểm do doanh nghiệp bảo hiểm quy định. + Đối với công ty bảo hiểm: Công ty cung cấp dịch vụ bảo hiểm cũng cần phải tôn trọng và thực hiện nguyên tắc trung thực tuyệt đối.
Công ty bảo hiểm có nghĩa vụ phải cung cấp đầy đủ và chính xác các thông tin có trong hợp đồng bảo hiểm. SVTH: Lê Thị Kim Quy 11 Khoá Luận Tốt ghiệp GVHD: TS. Hồ Thị Hương Lan N guyên tắc quyền lợi có thể được bảo hiểm: Quyền lợi có thể được bảo hiểm là lợi ích hoặc quyền lợi liên quan đến, gắn liền với, hay phụ thuộc vào sự an toàn hay không an toàn của đối tượng bảo hiểm. N guyên tắc này chỉ ra rằng người bảo hiểm muốn tham gia bảo hiểm phải có lợi ích bảo hiểm.
Quyền lợi có thể có được bảo hiểm là quyền lợi đã có hoặc sẽ có trong đối tượng bảo hiểm. N guyên tắc số đông bù số ít: Dựa trên số lượng khách hàng đủ lớn, doanh nghiệp bảo hiểm có thể tính toán khá chính xác khả năng xảy ra sự kiện bảo hiểm. Từ đó có thể tính phí bảo hiểm và quản lý các chi phí liên quan, đặc biệt là khoản dự phòng chi trả. N guyên tắc bảo hiểm số đông bù số ít chính là cơ sở khoa học của bảo hiểm.
N guyên tắc bồi thường: Khi rủi ro bảo hiểm xảy ra, doanh nghiệp bảo hiểm phải bồi thường cho bên được bảo hiểm một khoản nào đó để đảm bảo về vấn đề tài chính cho bên được bảo hiểm. Sau khi nhận được bồi thường, vị trí tài chính bên được bảo hiểm sẽ giống như khi chưa có rủi ro xảy ra, không hơn không kém. N guyên tắc khoán: Căn cứ vào số tiền bảo hiểm đã được giao kết và các điều đã thỏa thuận trong hợp đồng, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chi trả cho bên được bảo hiểm khi sự kiện bảo hiểm xảy ra. Mức tiền chi trả đã được khoán khi giao kết hợp đồng, là cam kết giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, không phải là tiền bồi thường thiệt hại.
Với nguyên tắc này, người được bảo hiểm có thể nhận được quyền lợi bảo hiểm từ các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ khác nhau. N guyên tắc nguyên nhân gần: N guyên nhân gần là nguyên nhân đã hiện hữu, có sự chi phối đến tổn thất mà bên được bảo hiểm gánh chịu. N ó không nhất thiết là nguyên nhân đầu tiên hay cuối cùng để gây nên tổn thất nhưng là nguyên nhân mạnh nhất để gây tổn thất. Doanh nghiệp bảo hiểm chịu trách nhiệm chi trả cho tổn thất gây ra do xảy ra sự kiện được bảo hiểm.