Luận văn thạc sĩ đánh giá di căn hạch trong ung thư trực tràng qua phẫu thuật đối chiếu với mô bệnh học và chụp cộng hưởng từ

Luận văn thạc sĩ phân tích đánh giá di căn hạch trong ung thư trực tràng qua phẫu thuật đối chiếu với mô bệnh học và chụp cộng, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Đại học Y Hà Nội

Chuyên ngành

Ung thư

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2017

161
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về di căn hạch trong ung thư trực tràng

Di căn hạch là một yếu tố quan trọng trong tiên lượng và điều trị ung thư trực tràng. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá tình trạng di căn hạch thông qua phẫu thuật và đối chiếu với kết quả mô bệnh họcchụp cộng hưởng từ (MRI). Ung thư trực tràng là một trong những loại ung thư phổ biến, đặc biệt ở các nước phát triển, với tỷ lệ mắc và tử vong cao. Việc xác định chính xác tình trạng di căn hạch giúp lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, bao gồm phẫu thuật, xạ trị, và hóa trị.

1.1. Tình hình mắc bệnh ung thư trực tràng

Ung thư trực tràng là một trong những loại ung thư phổ biến trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát triển. Theo số liệu từ Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), năm 2012 có khoảng 447.136 ca mắc mới tại châu Âu và 49.700 ca tử vong tại Mỹ. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư trực tràng đang có xu hướng gia tăng, đặc biệt ở các thành phố lớn như Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh. Di căn hạch là một yếu tố quan trọng trong tiên lượng bệnh, với tỷ lệ di căn khoảng 35-40% ở thời điểm chẩn đoán.

1.2. Đặc điểm giải phẫu và mô bệnh học

Trực tràng là đoạn ruột cuối cùng của đại tràng, có cấu trúc giải phẫu phức tạp với hệ thống mạch máu và bạch huyết dày đặc. Di căn hạch trong ung thư trực tràng thường xảy ra theo các đường bạch huyết, đặc biệt là các hạch cạnh trực tràng và hạch mạc treo. Mô bệnh học đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ xâm lấn của khối u và tình trạng di căn hạch, giúp đánh giá giai đoạn bệnh và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp.

II. So sánh phẫu thuật và mô bệnh học trong đánh giá di căn hạch

Phẫu thuật là phương pháp điều trị chính trong ung thư trực tràng, đặc biệt khi có di căn hạch. Nghiên cứu này so sánh kết quả phẫu thuật với mô bệnh học để đánh giá chính xác tình trạng di căn hạch. Phẫu thuật không chỉ giúp loại bỏ khối u mà còn cho phép nạo vét các hạch di căn, từ đó cải thiện tiên lượng bệnh. Mô bệnh học sau phẫu thuật cung cấp thông tin chi tiết về mức độ xâm lấn của khối u và tình trạng di căn hạch, giúp xác định giai đoạn bệnh và lựa chọn phương pháp điều trị tiếp theo.

2.1. Phương pháp phẫu thuật

Phẫu thuật trong ung thư trực tràng bao gồm cắt bỏ khối u và nạo vét các hạch di căn. Phương pháp này đòi hỏi độ chính xác cao để đảm bảo loại bỏ hoàn toàn khối u và các hạch bị ảnh hưởng. Phẫu thuật thường được kết hợp với xạ trịhóa trị để tăng hiệu quả điều trị, đặc biệt trong các trường hợp di căn hạch rộng. Kết quả phẫu thuật được đối chiếu với mô bệnh học để đánh giá chính xác tình trạng di căn hạch và mức độ xâm lấn của khối u.

2.2. Đánh giá mô bệnh học

Mô bệnh học là phương pháp quan trọng trong việc đánh giá di căn hạch sau phẫu thuật. Thông qua việc phân tích mẫu mô sau phẫu thuật, mô bệnh học giúp xác định mức độ xâm lấn của khối u, số lượng hạch di căn, và vị trí các hạch bị ảnh hưởng. Kết quả mô bệnh học cung cấp thông tin chi tiết về giai đoạn bệnh, giúp lựa chọn phương pháp điều trị tiếp theo như xạ trị hoặc hóa trị. Đối chiếu kết quả phẫu thuật với mô bệnh học giúp đánh giá chính xác hiệu quả điều trị và tiên lượng bệnh.

III. Vai trò của chụp cộng hưởng từ MRI trong chẩn đoán di căn hạch

Chụp cộng hưởng từ (MRI) là phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện đại, giúp đánh giá chính xác mức độ xâm lấn của khối u và tình trạng di căn hạch trong ung thư trực tràng. Nghiên cứu này so sánh kết quả chụp MRI với phẫu thuậtmô bệnh học để đánh giá hiệu quả của phương pháp này. Chụp MRI cho phép quan sát chi tiết các hạch bạch huyết và mức độ xâm lấn của khối u, giúp lập kế hoạch điều trị phù hợp. Kết quả chụp MRI được đối chiếu với mô bệnh học để xác định độ chính xác trong chẩn đoán di căn hạch.

3.1. Kỹ thuật chụp MRI

Chụp cộng hưởng từ (MRI) sử dụng từ trường và sóng radio để tạo ra hình ảnh chi tiết của các cơ quan và mô trong cơ thể. Trong ung thư trực tràng, chụp MRI giúp đánh giá mức độ xâm lấn của khối u và tình trạng di căn hạch. Phương pháp này đặc biệt hữu ích trong việc phát hiện các hạch bạch huyết bị ảnh hưởng, giúp lập kế hoạch phẫu thuật và điều trị phù hợp. Chụp MRI cũng được sử dụng để theo dõi hiệu quả điều trị và phát hiện tái phát sau phẫu thuật.

3.2. Đối chiếu kết quả MRI với mô bệnh học

Kết quả chụp MRI được đối chiếu với mô bệnh học để đánh giá độ chính xác trong chẩn đoán di căn hạch. Nghiên cứu cho thấy chụp MRI có độ chính xác cao trong việc phát hiện các hạch bị di căn, đặc biệt là các hạch nhỏ và khó phát hiện bằng các phương pháp khác. Đối chiếu kết quả chụp MRI với mô bệnh học giúp xác định hiệu quả của phương pháp này trong việc đánh giá di căn hạch và lập kế hoạch điều trị phù hợp.

13/02/2025
Luận văn thạc sĩ đánh giá di căn hạch trong ung thư trực tràng qua phẫu thuật đối chiếu với mô bệnh học và chụp cộng hưởng từ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thƣ đại trực tràng, trong đó trên 30% là ung thƣ trực tràng là bệnh phổ biến trên thế giới. Bệnh hay gặp ở các nƣớc phát triển, nhƣng đang có xu hƣớng gia tăng ở các nƣớc đang phát triển. Theo số liệu ghi nhận của Tổ chức y tế thế giới năm 2012, ung thƣ đại trực tràng đứng hàng thứ 3 về tỷ lệ mắc và đứng hàng thứ 2 về tỷ lệ tử vong sau ung thƣ phổi.602 bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng mới đƣợc chẩn đoán và khoảng 693.933 bệnh nhân tử vong do bệnh này [1]. Tuy nhiên tỷ lệ mắc và tử vong do bệnh giữa các vùng, miền, quốc gia trên thế giới rất khác nhau.

Tỷ lệ mắc bệnh cao ở các nƣớc Tây Âu, Bắc Mỹ, trung bình ở khu vực Đông, Nam Âu, Năm 2012 có 447.136 ca mắc mới tại châu Âu trong đó có 214.866 trƣờng hợp tử vong [1].700 ca mắc mới tại Mỹ và có 49.700 trƣờng hợp tử vong [2]. Tỷ lệ mắc bệnh thấp nhất ở châu Phi, một số vùng châu Mỹ La Tinh và châu Á.nhƣng hiện nay tỷ lệ mắc bệnh tại các nƣớc này lại đang có xu hƣớng gia tăng [3],[4],[5]. Tại Việt Nam ung thƣ đại trực tràng nằm trong số các bệnh ung thƣ hay gặp, đứng hàng thứ 5 trong số các bệnh ung thƣ sau ung thƣ phế quản, dạ dày, gan, vú. Theo số liệu ghi nhận ung thƣ tại Hà Nội, tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi trên 100.000 dân là 4,3 vào năm 1991 đã tăng nhanh chóng tới 13,3/100.

Tỷ lệ mắc ung thƣ đại trực tràng năm 2010 là 19/ 100.000 dân ở nam và 14,7/100. Bệnh đang trở thành một vấn đề lớn của y tế cộng đồng, ngày càng đƣợc quan tâm. Di căn hạch là một đặc tính quan trọng của ung thƣ trực tràng. Theo nhiều nghiên cứu khoảng 35 - 40% bệnh nhân đã có di căn hạch ở thời điểm chẩn đoán, tuy nhiên tỷ lệ này ở nƣớc ta theo nhiều công bố tới hơn 50% do đa phần bệnh nhân đến viện ở giai đoạn triệu chứng đã rất rõ ràng, u xâm lấn 2 rộng, việc điều trị khó khăn, tiên lƣợng xấu.

Di căn hạch trong ung thƣ trực tràng liên quan với nhiều yếu tố nhƣ: tuổi, thể giải phẫu bệnh, độ xâm lấn của khối u.vì vậy việc nghiên cứu các yếu tố này rất có giá trị trong điều trị và tiên lƣợng bệnh. Hiện nay phẫu thuật là vũ khí căn bản để điều trị ung thƣ trực tràng. Đối với các ung thƣ còn khu trú tại chỗ phải phẫu thuật triệt để cắt bỏ u và nạo vét các hạch di căn. Đối với ung thƣ xâm lấn rộng phải kết hợp phẫu thuật với hóa chất, tia xạ để tăng hiệu quả điều trị.

Chẩn đoán đúng mức độ xâm lấn và hạch di căn trƣớc điều trị do đó có vai trò quan trọng trong lựa chọn phác đổ điều trị phù hợp cũng nhƣ tiên lƣợng bệnh. Thăm khám lâm sàng ít giá trị vì hầu nhƣ không thể đánh giá đƣợc hạch tiểu khung. Các phƣơng pháp chẩn đoán hình ảnh nhƣ chụp cắt lớp vi tính có độ chính xác không cao trong chẩn đoán di căn hạch, siêu âm nội trực tràng có thể giúp phát hiện hạch cạnh trực tràng song đối với các khối u ở vị trí cao, chít hẹp hay chảy máu, dọa vỡ thì siêu âm nội trực tràng không áp dụng đƣợc. Chụp cộng hƣởng từ là một phƣơng pháp chẩn đoán hình ảnh giúp đánh giá tốt mức xâm lấn ung thƣ và tình trạng di căn hạch.

Đối với ung thƣ trực tràng nhiều nghiên cứu cho thấy chụp cộng hƣởng từ 1.5 Tesla cho kết quả rất tốt trong việc đánh giá bilan trƣớc khi điều trị. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: "Đánh giá di căn hạch trong ung thƣ trực tràng qua phẫu thuật đối chiếu với mô bệnh học và cộng hƣởng từ" nhằm 2 mục tiêu: 1. Đánh giá tình trạng di căn hạch trong ung thư trực tràng được phẫu thuật triệt căn và một số yếu tố liên quan. Khảo sát giá trị của chụp cộng hưởng từ 1.5 Tesla trong chẩn đoán di căn hạch.

3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TÌNH HÌNH MẮC BỆNH UNG THƢ TRỰC TRÀNG 1.1 Trên thế giới Ở các nƣớc phát triển, ung thƣ đại trực tràng là một trong những loại ung thƣ phổ biến, đứng hàng thứ 2 trong các loại ung thƣ, ở nam giới sau ung thƣ phổi và ở nữ giới sau ung thƣ vú, trong đó > 30% là UTTT [8].Tại Mỹ năm 2015 ƣớc tính có 39.610 bệnh nhân UTTT mới mắc và tỷ lệ mắc bệnh tăng trung bình 2% đến 3% trong vòng 15 năm qua.000 bệnh nhân UTĐTT mới đƣợc chẩn đoán trong đó UTTT chiếm 12.000 ca tử vong do UTĐTT [2]. Ở các nƣớc Đông Âu tỷ lệ mắc bệnh ở mức trung bình. Tỷ lệ mắc thấp ở một số nƣớc Nam Mỹ, châu Phi, châu á, nhƣng bệnh lại đang có xu hƣớng gia tăng [3], [4], [5], [7].2 Việt Nam Theo ghi nhận ung thƣ tại Hà Nội 1993 - 1994 cho thấy tỷ lệ mắc của UTTT là 7.000 dân [9] song đến năm 2008 tỷ lệ mắc chuẩn theo tuổi của UTĐTT là 16,9/100.000 dân đối với nam và 15,6/100.000 dân đối với nữ [7].

Theo số liệu Trung tâm Ung bƣớu thành phố Hồ Chí Minh 2009, tỷ lệ mắc UTĐTT đứng hàng thứ 3 ở cả hai giới chiếm 15,1/100.000 dân ở nam và chiếm tỷ lệ 8,7/100. 4 Australia (Victoria) 12,5 19,2 8,5 Ph¸ p (Bas-Rhin) 18,0 11,4 Mü (Connecticut) 18,0 6,2 Ba lan (Cracovie) 10,2 7,4 NhËt (Myagi) 9,9 3,7 Colombia (Cali) 3,4 2,5 3,2 1 Senegan (Dakar) 1,5 0 5 10 15 20 25 Nam N÷ Biểu đồ 1. Tỷ lệ mắc ung thư trực tràng ở một số nước trên thế giới (Tỷ lệ trên 100 000 dân) [11] 1. ĐẶC ĐIỂM GIẢI PHẪU CỦA TRỰC TRÀNG Trực tràng là đoạn ruột tiếp theo của đại tràng xích ma, đi từ đốt sống cùng 3 tới hậu môn.Đoạn cuối trực tràng gồm 2 phần: - Phần trên phình ra để chứa phân gọi là bóng trực tràng.

- Phần dƣới hẹp để giữ và tháo phân gọi là ống hậu môn [12].1 Hình thể ngoài - Trên thiết đồ đứng ngang thấy trực tràng thẳng - Trên thiết đồ đứng dọc thấy trực tràng cong lƣợn 2 phần: phần trên lõm ra trƣớc, dựa vào đƣờng cong của xƣơng cùng cụt, phần dƣới lõm ra sau, điểm bẻ gập nằm ngang chỗ bám của cơ nâng hậu môn.2 Hình thể trong - Ống hậu môn: cao 2-3 cm, nhẵn, màu đỏ tím vì có nhiều tĩnh mạch, nếu phồng giãn gây bệnh trĩ, ống không có lông và tuyến. 5 - Bóng trực tràng: cột Morgagni là lớp niêm mạc lồi lên cao, van là lớp niêm mạc nối chân cột với nhau, tạo thành túi giống van tổ chim. - Niêm mạc trực tràng: nhẵn, hồng, có 3 van: cụt, cùng dƣới và cùng trên, tƣơng đƣơng các điểm cách hậu môn 7 –11 – 15 cm.3 Liên quan định khu - Mặt trƣớc: ở nam, phần phúc mạc liên quan với túi cùng Douglas và mặt sau bàng quang. Phần dƣới phúc mạc liên quan với mặt sau dƣới của bàng quang, túi tinh, ống dẫn tinh và tuyến tiền liệt.

Ở nữ, phần phúc mạc qua túi cùng Douglas, liên quan với tử cung, túi cùng âm đạo sau, phần dƣới phúc mạc liên quan với thành sau âm đạo. - Mặt sau: liên quan với xƣơng cùng và các thành phần ở trƣớc xƣơng. - Mặt bên: liên quan với thành chậu hông, các mạch máu, niệu quản, thần kinh bịt. Trực tràng nằm trong một khoang đƣợc bao bọc xung quanh là tổ chức mỡ quanh trực tràng.

Ung thƣ thƣờng xâm lấn qua trực tràng vào tổ chức mỡ xung quanh [13]. Vị trí giải phẫu của trực tràng (Trích theo A.4 Hệ thống cơ thắt Trực tràng tiểu khung sau khi chui qua phúc mạc, đƣợc hòa lẫn trong hệ thống cơ thắt. Nó đƣợc tạo nên bởi 2 phần: hệ thống sợi vòng và hệ thống cơ. Hê thống cơ bao gồm cơ thắt trong và cơ thắt ngoài, đƣợc ngăn cách bởi lớp sợi dọc.1 Cơ thắt trong: Tƣơng ứng với chiều dày và dài của lớp cơ vòng trực tràng, đƣợc tạo nên từ các sợi cơ trơn, có hình trụ bao quanh ống hậu môn, cao 2-3 cm, dày 2 –7 mm.

Cơ thắt trong nhận biết đƣợc có màu trắng, không bị co khi kích thích bởi dao điện, đảm bảo động tác đại tiện không tự chủ.2 Cơ thắt ngoài: Đƣợc nhận biết bởi các sợi cơ vân, có thể coi nó nhƣ là sự phát triển của hệ thống cơ nâng hậu môn trong tiểu khung. Cơ thắt ngoài gồm 2 bó: - Bó dƣới da: bó này rất nông, bọc xung quanh lỗ hậu môn, tƣơng ứng với lớp cơ dƣới da. - Bó sâu: bó này gồm các sợi cơ chắc, khoẻ, cao 20-30 mm, các sợi cơ này toả ra, đi đến hoà vào nút thớ trung tâm của đáy chậu và hoà lẫn vào đƣờng đan hậu môn – cụt, rồi tiếp tục đi lên cao cùng với cơ nâng hậu môn của bó mu trực tràng. Cơ thắt ngoài đảm bảo động tác đại tiện tự chủ [11].

Mạch máu Các công trình nghiên cứu Kongstantinovich (1872), Quenu (1893), Poirer và Charpy (1895), chụp mạch của Thomson (1975), E. Pernaud (1976) cho thấy gồm 3 bó mạch chính. - Bó mạch trực tràng trên là bó mạch quan trọng nhất xuất phát từ động mạch mạc treo tràng dƣới sau đó chia 2 ngang mức cùng 3 thành 2 nhánh tận nối với nhau bởi mạng mạch dƣới niêm phong phú, tƣới máu cho phần trực tràng cao và trung bình, niêm mạc ống hậu môn. 7 - Bó mạch trực tràng giữa ở hai cánh trực tràng, bắt nguồn từ động mạch chậu trong, ít quan trọng, tham gia tƣới máu phần dƣới bóng trực tràng.

- Bó mạch trực tràng dƣới xuất phát từ động mạch thẹn trong, tƣới máu cho phần dƣới niêm mạc ống hậu môn và các cơ tròn. Nhìn chung trực tràng đƣợc nuôi dƣỡng bằng lƣới mạch máu phong phú, rất ít khi bị thiếu máu sau khi phẫu thuật khâu nối đại trực tràng. Các tĩnh mạch đƣợc hình thành từ đám rối dƣới niêm mạc (khi phình to tạo thành trĩ) và đổ vào tĩnh mạch cửa là chính. Vì vậy ung thƣ trực tràng hay gặp di căn vào gan [15].

Động mạch TT trên 2. Động mạch mạc treo tràng dƣới 5. Động mạch ĐT Sigma 6. Động mạch TT giữa 7.

Cơ nâng hậu môn 8. Động mạch TT dƣới 9. Cơ vòng hậu môn Hình 1. Động mạch nuôi dưỡng trực tràng hậu môn (Theo P.

Mạch bạch huyết Đầu tiên phân bố mạch bạch huyết đƣợc nghiên cứu bằng phẫu tích trên cơ thể chết do Rouvier, Cunio và nhất là Villemin, Huart và Montagnet tiến hành.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ