Luận văn Thạc sĩ Y tế: Đánh giá danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế

Đánh giá danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế quận bình thạnh thành phố hồ chí minh năm 2023 luận văn thạc sĩ tổ ch phục vụ n

Trường đại học

Trường Đại học Lạc Hồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2025

96
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Danh mục Thuốc tại Trung tâm Y tế

Danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu hiệu quả. Luận văn ThS của Nguyễn Ngọc Trang tại Trường Đại học Lạc Hồng đã tiến hành đánh giá danh mục thuốc chi tiết tại Trung tâm Y tế quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp hồi cứu, thu thập và phân tích dữ liệu từ báo cáo sử dụng thuốc toàn năm. Kết quả cho thấy trung tâm sử dụng 1.101 khoản mục thuốc với tổng chi phí vượt 9,5 tỷ đồng, trong đó thuốc tân dược chiếm 88,95% chi phí. Các phát hiện này cung cấp cơ sở quan trọng để cải tiến quản lý danh mục thuốc và nâng cao chất lượng điều trị tại tuyến y tế cơ sở.

1.1. Định nghĩa và Ý nghĩa của Danh mục Thuốc

Danh mục thuốc là tập hợp các loại thuốc được phép sử dụng tại một cơ sở y tế cụ thể. Xây dựng danh mục thuốc hợp lý giúp đảm bảo sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả và tiết kiệm chi phí. Tại tuyến y tế cơ sở, quản lý danh mục thuốc góp phần nâng cao chất lượng điều trị, giảm lãng phí và tối ưu hóa nguồn lực y tế. Việc phân loại thuốc theo tác dụng dược lý, nguồn gốc xuất xứ và loại hình (biệt dược - generic) là yêu cầu cơ bản.

1.2. Cơ sở Pháp lý cho Quản lý Danh mục Thuốc

Việc đánh giá danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế tuân thủ các quy định của Bộ Y tế và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Luận văn ThS về tổ chức quản lý dược nhấn mạnh tầm quan trọng của việc rà soát, cập nhật danh mục thuốc định kỳ. Các cơ sở y tế phải phân loại VEN, phân tích ABC để xác định ưu tiên sử dụng. Kết quả nghiên cứu tại quận Bình Thạnh cho thấy cần cải tiến phương pháp dự báo nhu cầu thuốc để giảm tỷ lệ sử dụng dưới mức dự trù.

II. Kết quả Đánh giá Cấu trúc Danh mục Thuốc

Nghiên cứu danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế quận Bình Thạnh năm 2023 đã phân tích chi tiết cấu trúc 1.101 khoản mục thuốc. Thuốc tân dược chiếm 88,95% tổng chi phí, trong khi thuốc từ dược liệu và Đông y chiếm 11,05%. Tỷ lệ thuốc đơn thành phần là 76,16%, cho thấy khuynh hướng sử dụng thuốc đơn. Thuốc generic chiếm 88,19%, phản ánh chính sách sử dụng thuốc tiết kiệm tại cơ sở. Phân tích ABC và VEN cho thấy nhóm A(8,63%), B(10,54%), C(80,83%); nhóm V(54%), E(75,57%), N(18,98%). Mô hình bệnh tật chủ yếu là bệnh cơ xương khớp (30,03%)bệnh tim mạch (24,96%).

2.1. Phân loại Thuốc theo Nguồn Gốc và Loại Hình

Danh mục thuốc sử dụng được phân loại thành thuốc tân dược (tây y) và thuốc từ dược liệu - Đông y. Kết quả cho thấy thuốc tân dược chiếm 88,95% chi phí, phản ánh ưu tiên sử dụng thuốc hiện đại. Thuốc generic chiếm 88,19%, giúp giảm chi phí điều trị cho bệnh nhân. Việc phân tích danh mục thuốc theo loại hình này giúp xác định cơ cấu chi tiêu và dự báo nhu cầu tài chính chính xác hơn.

2.2. Phân tích ABC và VEN trong Quản lý Danh mục

Phân tích ABC chia danh mục thuốc thành ba nhóm: A(8,63% - chi phí cao, số lượng ít), B(10,54%), C(80,83% - chi phí thấp, số lượng nhiều). Phân tích VEN phân loại thuốc theo tính chất: V-vital(54%), E-essential(75,57%), N-non-essential(18,98%). Kết hợp hai phương pháp này giúp đánh giá danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế hiệu quả hơn và xác định ưu tiên cấp phát ngân sách.

III. Phân tích Tình trạng Sử dụng Thuốc theo Lâm sàng

Danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế được liên kết chặt chẽ với mô hình bệnh tật và nhu cầu điều trị của cộng đồng. Kết quả đánh giá danh mục thuốc cho thấy bệnh cơ xương khớp (30,03%)bệnh tim mạch (24,96%) là hai nhóm bệnh chủ yếu. Nhóm thuốc AN (10,66%) được sử dụng nhằm điều trị các bệnh liên quan. Thuốc tăng huyết áp (68,09%), thuốc tiêu hóa (46,05%), thuốc hạ đường huyết (94,72%) thể hiện cấu trúc danh mục thuốc phù hợp với nhu cầu lâm sàng. Tuy nhiên, có 43 khoản mục trúng thầu không được sử dụng, chỉ ra cần điều chỉnh lại danh mục thuốc sử dụng để phù hợp hơn.

3.1. Cấu trúc Nhóm Thuốc theo Tác dụng Dược lý

Danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế được tổ chức theo nhóm tác dụng dược lý rõ ràng. Nhóm thuốc AN, thuốc tim mạch, thuốc tiêu hóa, thuốc hạ đường huyết đều được tính toán chi tiết với tỷ lệ sử dụng cụ thể. Kết quả đánh giá danh mục thuốc cho thấy thuốc hạ đường huyết (94,72%) có tỷ lệ sử dụng rất cao, phù hợp với tỷ lệ bệnh nhân bệnh tiểu đường tại cơ sở.

3.2. Sự Phù hợp giữa Danh mục Thuốc và Tảo Bệnh

Danh mục thuốc sử dụng phải phù hợp với mô hình bệnh tật tại địa phương để đảm bảo hiệu quả điều trị. Bệnh cơ xương khớp (30,03%) yêu cầu các loại thuốc chống viêm, giảm đau phù hợp. Bệnh tim mạch (24,96%) cần các thuốc tim mạch chất lượng cao. Kết quả đánh giá danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế quận Bình Thạnh cho thấy sự phù hợp tương đối tốt, nhưng vẫn cần tiếp tục cải tiến.

IV. Giải pháp Cải tiến Quản lý Danh mục Thuốc

Dựa trên kết quả đánh giá danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế, luận văn ThS đề xuất các giải pháp cải tiến. Phân loại VEN cần được áp dụng để xác định các thuốc quan trọng nhất. Rà soát và cải tiến phương pháp dự báo nhu cầu thuốc là yêu cầu cấp bách, vì hiện tại 56,5% sử dụng trong ngưỡng (80-120%), 43,14% dưới 80% và chỉ 0,36% vượt quá 120%. Cần kết hợp phân tích dữ liệu sử dụng thực tế để giảm tỷ lệ sử dụng dưới mức dự trù. Loại bỏ 43 khoản mục trúng thầu không được sử dụng để tối ưu hóa danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế.

4.1. Rà soát và Cập nhật Danh mục Thuốc Định kỳ

Rà soát danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế cần thực hiện hàng quý hoặc bán niên. Loại bỏ 43 khoản mục trúng thầu không được sử dụng sẽ giảm chi phí lưu kho và tối ưu hóa quỹ dược. Việc cập nhật danh mục thuốc phải dựa trên phân tích ABC, VEN và dữ liệu thực tế mô hình bệnh tật. Đội ngũ tổ chức quản lý dược cần được đào tạo về phương pháp phân tích danh mục thuốc sử dụng hiệu quả.

4.2. Cải tiến Phương pháp Dự báo Nhu cầu Thuốc

Cải tiến phương pháp dự báo nhu cầu thuốc giúp giảm tỷ lệ sử dụng dưới mức dự trù từ 43,14% hiện nay. Cần kết hợp phân tích dữ liệu sử dụng thực tế từ các năm trước với dự báo nhu cầu bệnh nhân tương lai. Danh mục thuốc sử dụng tại trung tâm y tế sẽ ổn định hơn khi áp dụng các công cụ phân tích thống kê tiên tiến, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng thuốc hợp lý.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I Bệnh nhiễm trùng và ký sinh trùng. Bệnh máu, cơ quan tạo máu và các rối loạn liên quan cơ chế miễn Chương III dịch. Chương IV Bệnh nội tiết, dinh dưỡng và chuyển hóa. Chương V Rối loạn tâm thần và hành vi.

Chương VI Bệnh của hệ thần kinh. Chương VII Bệnh mắt và phần phụ. Chương VIII Bệnh tai và xương chũm. Chương IX Bệnh của hệ tuần hoàn.

Chương X Bệnh hệ hô hấp. Chương XI Bệnh hệ tiêu hóa. 11 Chương Tên nhóm bệnh Chương XII Bệnh da và mô dưới da. Chương XIII Bệnh cơ xương khớp và mô liên kết.

Chương XIV Bệnh hệ tiết niệu và sinh dục. Chương XV Chửa, đẻ và sau đẻ. Chương XVI Một số bệnh xuất phát trong thời kỳ sơ sinh. Chương Dị tật, dị dạng bẩm sinh và bất thường nhiễm sắc thể.

XVII Chương Triệu chứng, dấu hiệu và những phát hiện lâm sàng, cận lâm sàng XVIII bất thường không phân loại ở nơi khác. Chấn thương, ngộ độc và một số hậu quả khác do nguyên nhân Chương XIX bên ngoài. Chương XX Nguyên nhân bên ngoài của bệnh tật và tử vong. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe và tiếp xúc dịch vụ Chương XXI y tế.2 Phương pháp phân tích ABC Phân tích ABC là phương pháp phân tích tương quan giữa lượng thuốc tiêu thụ hàng năm và chi phí, nhằm phân định ra những thuốc nào chiếm tỷ lệ lớn trong ngân sách.

Đây là phương pháp tiếp cận hiệu quả để quản lý thuốc dựa trên nguyên lý Pareto “số ít sống còn và số nhiều ít có ý nghĩa”. Theo lý thuyết Pareto: 10% theo chủng loại của thuốc sử dụng 70% ngân sách thuốc (nhóm A). Nhóm tiếp theo: 20% theo chủng loại sử dụng 20% ngân sách (nhóm B), nhóm còn lại (nhóm C): 70% theo chủng loại nhưng chỉ sử dụng 10% ngân sách (Vahit YGGGT,2017). Phân tích ABC có thể ứng dụng các số liệu sử dụng thuốc cho chu kỳ một năm hoặc ngắn hơn để ứng 12 dụng cho một hoặc nhiều đợt đấu thầu, từ các kết quả phân tích thu được, các giải pháp can thiệp được đưa ra nhằm điều chỉnh ngân sách thuốc cho một hoặc nhiều năm tiếp theo (Bộ y tế, 2013).

Phân tích ABC là một công cụ mạnh mẽ trong lựa chọn, mua và cấp phát và sử dụng thuốc hợp lý để có được bức tranh chính xác và khách quan về sử dụng ngân sách thuốc. Giúp bệnh viện tiết kiệm chi phí đáng kể và được áp dụng phổ biến trên thế giới. Lợi ích mà phương pháp phân tích ABC mang lại (Vahit YGGGT,2017): + Chỉ ra những thuốc được sử dụng thay thế với số lượng lớn mà có chi phí thấp trong DMT hoặc có sẵn trên thị trường. Thông tin này sử dụng để lựa chọn những thuốc thay thế có chi phí điều trị thấp hơn, tìm ra những liệu pháp điều trị thay thế hoặc thương lượng với nhà cung cấp để tăng hiệu quả kinh tế.

+ Lượng giá mức độ tiêu thụ thuốc, phản ánh nhu cầu chăm sóc sức khoẻ của cộng đồng và từ đó phát hiện những vấn đề chưa hợp lí trong sử dụng thuốc, bằng cách so sánh lượng thuốc tiêu thụ với mô hình bệnh tật. + Xác định phương thức mua sắm hợp lý. Thuốc nhóm A là các loại thuốc giá cao. Việc mua thuốc A nên thực hiện thường xuyên, chia nhỏ thành nhiều đợt để số lượng tồn kho thấp.

Đồng thời bệnh viện thường xuyên theo dõi tình trạng sử dụng của nhóm thuốc A để tránh sự gián đoạn bất ngờ trong cung ứng có thể dẫn đến tình trạng thiếu thuốc. Ưu điểm chính của phương pháp này là giúp xác định xem phần lớn ngân sách được chi trả cho những thuốc nào. Nhược điểm chính là không cung cấp được đủ thông tin để so sánh những thuốc có hiệu lực khác nhau.3 Phương pháp phân tích VEN Phương pháp phân tích VEN cũng được áp dụng tại nhiều quốc gia trên thế giới. Khác với phân tích ABC, muốn phân tích VEN phải thành lập một hội đồng chuyên gia, yêu cầu sự đồng thuận cao trong quan điểm phân loại thuốc.

Đối với các bệnh viện đa khoa đây là một vấn đề rất khó khăn, vì với cùng một thuốc nhưng đối với các chuyên khoa khác nhau thì mức độ cấp thiết là khác nhau. Phân tích VEN dựa trên mức độ quan trọng của các nhóm thuốc: 13 + Nhóm V (Vital) là nhóm thuốc dùng trong các trường hợp cấp cứu hoặc các thuốc quan trọng, nhất thiết phải có để phục vụ công tác khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện; + Nhóm E (Essential) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh ít nghiêm trọng hơn nhưng vẫn là các bệnh lý quan trọng trong mô hình bệnh tật của bệnh viện; + Nhóm N (Non-Essential) là thuốc dùng trong các trường hợp bệnh nhẹ, bệnh có thể tự khỏi, có thể bao gồm các thuốc mà hiệu quả điều trị còn chưa được khẳng định rõ ràng hoặc giá thành cao không tương xứng với lợi ích lâm sàng của thuốc. - Phương pháp phân tích VEN được sử dụng chủ yếu để thiết lập quyền ưu tiên cho việc lựa chọn, mua và sử dụng trong hệ thống cung ứng, hướng dẫn hoạt động quản lý tồn trữ và quyết định giá thuốc phù hợp. Phân tích VEN được sử dụng trong lựa chọn thuốc như sau: thuốc tối cần và thuốc thiết yếu nên ưu tiên lựa chọn, nhất là khi ngân sách thuốc hạn hẹp (Bộ y tế, 2013).2 Tiêu chuẩn để phân tích VEN theo WHO (WHO, 2023) Đặc tính của thuốc Vital Essential Non-essential Mức độ nặng của bệnh Đe dọa sự sống (+) Thỉnh thoảng Hiếm Hiệu quả điều trị của thuốc Dự phòng bệnh nặng (+) (-) (-) Điều trị bệnh nặng (+) (+) (-) Điều trị triệu chứng hay bệnh (-) (+/-) (+) nhẹ có thề tự khỏi Đã được chứng minh hiệu quả Luôn luôn Thường Có thể Chứng minh không hiệu quả Không bao giờ Hiếm Có thể Kết hợp phân tích ABC và phân tích VEN được ma trận ABC/VEN có thể mang lại hiệu quả trong việc kiểm soát lựa chọn và mua sắm.

Ma trận ABC/VEN bao gồm các nhóm: nhóm I (AV, BV, CV, AE, AN), nhóm II (BE, CE, BN), nhóm III (CN). Đây là một phương pháp phân tích để phát hiện vấn đề sử dụng thuốc và là bước đầu tiên trong quy trình xây dựng DMT bệnh viện.4 Phân tích theo liều xác định hằng ngày (DDD). Phương pháp tính liều xác định hàng ngày (DDD) giúp chuyển đổi, chuẩn hóa các số liệu về số lượng sản phẩm hiện có như hộp, viên, ống tiêm, chai thành ước lượng thô về thuốc được dùng trong điều trị. Liều xác định hàng ngày chính là liều trung bình duy trì trong ngày với chỉ định chính của một thuốc nào đó.

Việc chuyển đổi tổng số lượng thuốc trong báo cáo kiểm kê thành liều xác định trong ngày cho phép xác định sơ bộ số ngày điều trị của thuốc đã được tiêu thụ.1 Các chỉ số sử dụng thuốc: Các chỉ số sử dụng thuốc WHO/INRUD cho các cơ sở y tế ban đầu 1.2 Các chỉ số kê đơn: - Số thuốc kê trung bình trong một đơn. - Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê tên generic hoặc tên chung quốc tế (INN). - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh. - Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm.

- Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin - Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế ban hành.3 Các chỉ số cơ sở: - Sự sẵn có của các thuốc thiết yếu hoặc thuốc trong danh mục cho BS kê đơn. - Sự sẵn có của các phác đồ điều trị. - Sự sẵn có của các thuốc chủ yếu.4 Các chỉ số sử dụng thuốc toàn diện: - Tỷ lệ phần trăm người bệnh được điều trị không dùng thuốc. - Chi phí cho thuốc trung bình của mỗi đơn.

- Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho kháng sinh. - Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho thuốc tiêm. - Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc dành cho vitamin. - Tỷ lệ phần trăm đơn kê phù hợp với phác đồ điều trị.

- Tỷ lệ phần trăm người bệnh hài lòng với dịch vụ chăm sóc sức khỏe. - Tỷ lệ phần trăm cơ sở y tế tiếp cận được với các thông tin thuốc khách quan.5 Một số văn bản pháp quy liên quan đến danh mục thuốc sử dụng trong Trung tâm Y tế Bộ Y tế đã có nhiều biện pháp nhằm cải thiện chất lượng quản lý, sử dụng DMT. Một trong số đó là việc ban hành các hành lang pháp lý quy định về các vấn đề nảy. Trong những năm gần đây, nhiều văn bản hướng dẫn sử dụng thuốc ra đời, có ảnh hưởng trực tiếp đến các cơ sở khám chữa bệnh.1 Một số văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các tổ chức có trách nhiệm quản lý sử dụng thuốc - Thông tư 22/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định về chức năng hoạt động của khoa Dược.

Đây là khoa có chức năng và tham mưu cho Giám đốc về toàn bộ công tác dược trong bệnh viện, nhằm đảm bảo cung cấp đầy đủ, kịp thời thuốc có chất lượng và tư vấn, giám sát việc thực hiện sử dụng thuốc an toàn, hợp lý. Như vậy khoa Dược đóng vai trò chủ đạo và là đầu mối trong quản lý sử dụng thuốc tại bệnh viện. - Thông tư 23/2011/TT-BYT ngày 10/6/2011 của Bộ Y tế quy định hướng dẫn sử dụng thuốc trong các cơ sở y tế có giường bệnh. Theo đó, bệnh viện căn cứ vào tình trạng người bệnh, mức độ bệnh lý để lựa chọn đường dùng thuốc thích hợp.

Bệnh nhân chỉ dùng đường tiêm khi không uống được hoặc khi sử dụng thuốc theo đường uống không đáp ứng yêu cầu điều trị. - Thông tư 21/2013/TT-BYT ngày 08/8/2013 của Bộ Y tế quy định về hoạt động của động của HĐT&ĐT (Bộ y tế, 2013). Thông tư nêu rõ chức năng của HĐT &ĐT là tư vấn cho Giám đốc về các vấn đề liên quan đến thuốc và điều trị, thực hiện tốt chính sách quốc gia về thuốc trong bệnh viện. Theo đó HĐT&ĐT có 6 nhiêm vụ cơ bản: • Xây dựng các quy định về quản lý và sử dụng thuốc • Xây dựng DMT bệnh viện • Xây dựng và thực hiện các hướng dẫn điều trị • Xác định và phân tích các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc • Giám sát phản ứng có hại của thuốc (ADR) và các sai sót trong điều trị • Thông báo kiểm soát thông tin thuốc.

16 HĐT&ĐT đóng vai trò điều phối, xữ lý các vấn đề sử dụng thuốc trong đó quan trọng nhất là xây dựng và quản lý DMT bệnh viện.2 Một số văn bản hướng dẫn thực hiện các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc đến thời điểm nghiên cứu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ