Đặt vấn đề Dầu nước hay còn gọi là Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb. Don) là loài thuộc chi Dầu (Dipterocarpus), họ Dầu (Dipterocarpaceae) hiện chỉ phân bố ở miền trung và miền nam Việt Nam và mở rộng sang Campuchia, Lào, Myanmar, Philippines, Thái Lan và Ấn Độ [10]. Dầu nước là một loài đóng vai trò chủ đạo trong hệ sinh thái và kinh tế của khu rừng mưa vùng đất thấp tại phía Nam Việt Nam. Dầu nước đang được sử dụng rộng rãi trong xây dựng và công nghiệp, chúng cũng được sử dụng như nguồn tinh dầu có giá trị.
Trong những năm gần đây, do giá trị thương mại và nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều của người dân địa phương đối với loài thực vật này nên chúng đang bị khai thác quá mức. Hơn nữa, do áp lực tăng trưởng kinh thế nên diện tích rừng đang ngày một suy giảm để phục vụ cho các mục đích khác nhau của con người.Theo các tiêu chí mới của IUCN 2013 [30] loài Dầu nước (Dipterocarpus alatus Roxb. Don) hiện được xếp ở bậc đe dọa ở mức độ nguy cấp vì có phân bố hẹp, số cá thể trưởng thành còn lại quá ít và chất lượng cây xấu, tái sinh tự nhiên ít, bị khai thác và chết dần vì môi trường sống bị xâm phạm và thu hẹp. Cũng vì lý do trên, tại Việt Nam loài này đang nằm trong sách đỏ Việt Nam năm 2007 ở mức độ nguy cấp[7].
Do có giá trị cao cả về mặt khoa học và kinh tế, vì vậy việc bảo tồn và phục hồi loài Dầu nước là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý. Để góp phần đưa ra các giải pháp bảo tồn và phục hồi loài, đánh giá mức độ đa dạng di truyền quần thể loài Dầu nước có ý nghĩa quan trọng. Mức độ đa dạng di truyền không những chỉ ra khả năng tồn tại của loài ở hiện tại và tương lai, mà còn chỉ ra tiềm năng tiến hoá của loài. Hiện nay, có nhiều chỉ thị phân tử (RADP, RFLP, ISSR, SSR,.) đã được sử dụng trong các nghiên cứu đa dạng di truyền quần thể và loài thực vật.
Trong đó, kỹ thuật SSR (SSRs) đã nhanh chóng trở thành kỹ thuật hữu hiệu và được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu. n 2 Với việc ứng dụng chỉ thị SSR để nghiên cứu sâu về đa dạng di truyền, đề tài “Đánh giá đa dạng di truyền quần thể cuả loài Dầu nước (Dipterocarpus alatus Roxb. Don) bằng chỉ thị phân tử SSR (SSRs) ở tỉnh Đồng Nai” được thực hiện. Mục tiêu của nghiên cứu này là sử dụng kỹ thuật phân tử SSR để điều tra mức độ đa dạng di truyền trong và giữa các quần thể của loài Dầu rái (D.
alatus) sống tự nhiên tại tỉnh Đồng Nai và kết quả sẽ cung cấp các thông tin cần thiết cho việc đưa ra các giải pháp hữu hiệu để bảo tồn loài, phục hồi và sử dụng bền vững loài của cộng đồng dân cư địa phương. Mục tiêu nghiên cứu Hiểu rõ cơ chế làm xói mòn cấu trúc di truyền quần thể và loài dưới các tác động của con người. Mục đích nghiên cứu Xác định được mức độ xói mòn tính đa dạng di truyền quần thể và loài Dầu nước (Dipterocarpus alatus Roxb. Don) trong các điều kiện môi trường và kích thước quần thể khác nhau.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Là cơ sở ban đầu nghiên cứu di truyền quần thể và loài, dự báo sinh thái và kinh tế - xã hội để thống nhất lập ra các chiến lược bảo tồn loài bền vững. Góp phần quan trọng trong chiến lược bảo tồn, kết hợp chặt chẽ giữa quản lý quần thể và loài trong các hoạt động bảo tồn loài bằng chuyển vị và nguyên vị. Ý nghĩa thực tiễn Nâng cao kiến thức về bảo tồn đa dạng sinh học và giúp cho các nhà quản lý đưa ra các giải pháp bảo vệ giá trị đa dạng sinh học một cách hiệu quả nhất, cùng với người dân địa phương trong việc phục hồi nơi sống của các loài đang bị đe doạ và bảo tồn loài.
Góp phần tăng thu nhập của người dân địa phương liên quan đến bảo tồn hiệu quả giá trị đa dạng sinh học. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Một số đặc điểm của loài Dầu nước 2. Phân loại khoa học [10] Giới (regnum): Plantae Ngành (phylum): Angiospermae Lớp (class): Eudicots Bộ (order): Malvales Họ (familia): Dipterocarpaceae Chi (genus): Dipterocarpus Loài (species): alatus Hình 2.
Cây Dầu nước (Dipterocarpus alatus) tại Vườn quốc gia Cát Tiên, Đồng Nai n 4 2. Đặc điểm sinh học – sinh thái Cây gỗ lớn, thân trụ thẳng, phân cành muộn, cao 40-45m, đường kinh đạt tới 2m hay hơn. Vỏ lúc non dày, màu xám trắng; khi già mỏng, màu xám nâu, nứt dọc nhẹ. Cành màu nâu đỏ, có vết vòng lá kèm và có lông màu xám hay hung đỏ.
Dầu rái Dipterocarpus alatus roxb ex G.Don Lá đơn mọc cách, mặt trên màu xanh thẫm, nhẵn bóng, mặt dưới xanh nhạt có lông mịn, phiến lá hình bầu dục thuôn, kích thước 16-25x5-15cm, đầu nhọn, gốc tù hay hình tim. Ở cây non lá có lông, sau nhẵn; gân bên 18-31 đôi, nổi rõ ở mặt dưới, cuống lá dài 4 – 8cm, mảnh lá kèm bao chồi búp màu đỏ dài 15 – 20cm, rộng 2 - 4cm, phía ngoài có lông. Cụm hoa mọc ở nách lá, dạng chùm đơn, có lông, dài 10- 18cm, mang 6-8 hoa không cuống. Lá đài có ống dài 17mm, phía ngoài có 5 gờ dọc, cánh hoa màu hồng, nhẵn, dài 5cm, nhị nhiều (khoảng 30).
Quả có ống đài bao bọc toàn phần, dài 3-4cm, rộng 2,5-2,8cm, có 5 gờ lớn chạy dọc, khi non màu xanh; trên đầu mang các cánh do lá đài phát triển, với 2 cánh lớn dài 20- 23cm, rộng 3-4cm, có 3 gân gốc màu đỏ, khi già quà và cánh chuyển sang màu cánh dán. Quả gần hình cầu, có 5 cạnh nổi rõ, đừng kính 1-1,5 cm. Quả có 5 cánh đài nhẵn; hai cánh to, cánh dài từ 10-14 cm, rộng 1,5-2 cm, xếp song song, có màu n 5 đỏ tươi khi quả non và chuyển thành màu vàng khi quả chín già; 3 cánh nhỏ có kích thước 1,2-1,4 cm. Mỗi quả có 1 hạt.
Mùa quả chín là tháng 3-4 hàng năm, chín tập chung vào cuối tháng 3 đầu tháng 4 [10]. Nơi sống Dầu nước thường mọc thành từng đám còn gọi là các “láng dầu” hoặc dải rác ven sông suối, trong các khu rừng tự nhiên nhiệt đới. Cây thường mọc xen với các loài cây họ đậu như Gỗ đỏ (Afzelia xylocarpa), Gụ mật (Sindora cochinchinensis), các loài Cẩm lai (Dalbergia spp) và các loài cây lá rộng khác. Cây được sắp xếp vào nhóm có tăng trưởng trung bình, cây 45 tuổi đạt đường kính ngang ngực 0.62 cm/năm và chiều cao vút ngọn đạt 0.
Dầu nước có phân bố rộng khắp Đông Nam Á kéo suốt từ Indonesia, Malaixia, Philipin, Ấn Độ, Myanma, Thái Lan qua Lào và Căm-pu-chia sang Việt Nam. Các vùng có Dầu nước phân bố nhiều nhất ở Việt Nam là: - Lộc Ninh, Phước Long, Bù Đăng, Đồng Xoài (Bình Phước) - Vĩnh An, Tân Phú, Xuân Lộc (Đồng Nai) - Xuyên Mộc, Bình Châu – Phước Bửu, Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu). - Vườn quốc gia Cát Tiên - Lâm Trường Tân Phú (Đồng Nai) - Khu bảo tồn Bình Châu – Phước Bửu (Bà Rịa – Vũng Tàu) - Vườn quốc gia Bù Gia Mập (Bình Phước) - Vườn quốc gia Yokdon (Đăk lăk) - Và rải rác trong các khu rừng nghèo, rừng phục hồi. Năm 2011, một quần thể cây Dầu rái quý hiếm, nguyên sinh và thuần chủng lớn nhất Việt Nam đã được phát hiện tại vươn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.
Cây Dầu rái phân bố trong rừng nhiệt đới ẩm ở Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam. Tại Việt Nam, loài cây này thường quần tụ dọc bờ sông và là câu chủ yếu tạo các khu rừng phục hồi dọc sông Đồng Nai và vườn quốc gia Cát Tiên. Công dụng Gỗ Dầu nước sử dụng nhiều trong công nghiệp và xây dựng như: n 6 - Làm cột - Ván - Đồ dùng gia dụng - Chế biến ván ép - Ván sàn Nhựa Dầu nước được khai thác làm sơn véc – ni, trát xuồng. Ngoài ra cây Dầu nước có dáng đẹp nên còn được trồng làm cây cảnh quan đường phố, cây bóng mát, trong công viên.
Vấn đề bảo tồn nguồn gen cây Dầu nước Đối với chương trình bảo tồn nguồn gen, đa dạng di truyền ở các loài cây họ Dầu có thể được duy trì trong rừng thông qua thu hái hạt giống. Khi so sánh với các loài cây lá kim, chúng ta thấy có những khác biệt cần được quan tâm. Cây lá kim thường tạo thành các quần thụ lớn và thụ phấn nhờ gió, nên khi thu hái hạt, thường chỉ thu hái hạt của 5 cây mẹ cho mỗi vùng là đủ vì nó đảm bảo đa dạng di truyền thông qua thụ phấn chéo nhờ gió với nguồn phấn hoa rất phong phú. Ngược lại, cây họ Dầu cho thấy có một tỷ lệ các cây không thụ phấn chéo và thụ phấn giữa hai cây mẹ gần nhau vì côn trùng thường quen thụ phấn cho các cây trong cùng khu vực trước mà chưa thể bay đi xa.
Do vậy, đa dạng di truyền nằm trong lượng hạt thu thập được chưa đủ đại diện cho cả quần thể như các loài cây lá kim. Để bảo tồn ex situ cây họ Dầu, nên thu hái hạt từ nhiều cây mẹ cách xa nhau. Đa dạng di truyền quần thể thực vật 2. Khái niệm về đa dạng di truyền quần thể Đa dạng di truyền là tập hợp tất cả các gen khác nhau của tất cả các cá thể thực vật, động vật, nấm và vi sinh vật.
Đa dạng di truyền tồn tại trong một loài và giữa các loài khác nhau. Đa dạng di truyền là sự đa dạng về thành phần gen giữa các cá thể trong cùng một loài và giữa các loài khác nhau; là sự đa dạng về gen có thể di truyền được trong một quần thể hoặc giữa các quần thể. Qua đó, sự đa dạng của các biến dị có thể di truyền trong một loài, một quần xã hoặc giữa các loài, các quần xã được biểu hiện. Vì vậy, đa dạng di truyền chính là biến dị của sự tổ hợp trình tự của bốn cặp n 7 bazo cơ bản, thành phần của axit nucleic, tạo thành mã di truyền.
Đa dạng di truyền giúp cho các loài sinh vật đảm bảo sự sinh sản, chống chịu với bệnh tật và khả năng thích nghi với điều kiện môi trường luôn thay đổi.