Luận văn: Khảo sát cường độ chịu nén bê tông công trình cấp nước tại Trà Vinh

Luận văn khảo sát, đánh giá cường độ chịu nén của bê tông tại các công trình cấp nước ở Trà Vinh, so sánh kết quả thực tế với tiêu chuẩn thiết kế.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2018

144
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tầm quan trọng đánh giá cường độ bê tông công trình Trà Vinh

Các công trình cấp nước tại Trà Vinh, đặc biệt là các đài nước và bể chứa, phần lớn được xây dựng bằng kết cấu bê tông cốt thép. Đây là vật liệu chủ chốt quyết định đến an toàn kết cấu chịu lực, tuổi thọ và sự bền vững của toàn bộ hệ thống. Theo thời gian và dưới tác động của môi trường, chất lượng bê tông có thể suy giảm, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn. Do đó, việc đánh giá cường độ bê tông một cách định kỳ và chính xác là nhiệm vụ cấp thiết. Hoạt động này không chỉ giúp xác định cường độ chịu nén thực tế của bê tông tại hiện trường mà còn là cơ sở khoa học để so sánh với cường độ thiết kế ban đầu. Luận văn thạc sỹ của Diệp Như Bình (2018) đã chỉ ra rằng, cường độ thực tế tại nhiều hạng mục có sự biến động lớn so với thiết kế, nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác kiểm định chất lượng công trình. Việc đánh giá này giúp các nhà quản lý, kỹ sư đưa ra quyết định kịp thời về bảo trì, sửa chữa hoặc nâng cấp, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho hạ tầng cấp nước và phục vụ đời sống người dân. Quá trình này cũng là một phần không thể thiếu trong quy trình nghiệm thu công trình xây dựng, giúp xác nhận chất lượng thi công có đạt chuẩn hay không.

1.1. Hiện trạng các công trình cấp nước bằng bê tông cốt thép

Từ năm 1998 đến 2015, tỉnh Trà Vinh đã đầu tư xây dựng và nâng cấp hàng trăm trạm cấp nước. Các hạng mục chính như đài nước, bể chứa chủ yếu được thi công bằng kết cấu bê tông cốt thép với nhiều cấp độ bền khác nhau. Nhiều công trình đã hoạt động trên 10-20 năm, chịu ảnh hưởng trực tiếp từ điều kiện khí hậu ven biển đặc thù của tỉnh. Thực trạng này đặt ra yêu cầu phải khảo sát, đánh giá lại chất lượng để đảm bảo an toàn vận hành. Việc sử dụng vật liệu tại chỗ còn hạn chế, chủ yếu nhập từ các tỉnh khác, có thể dẫn đến sự không đồng đều về chất lượng cốt liệu, ảnh hưởng đến cường độ bê tông thành phẩm.

1.2. Vai trò của việc kiểm định chất lượng công trình định kỳ

Việc kiểm định chất lượng công trình định kỳ không chỉ là yêu cầu pháp lý mà còn là biện pháp quản lý rủi ro hiệu quả. Đối với các công trình cấp nước, hoạt động này giúp phát hiện sớm các dấu hiệu suy giảm cường độ, nứt, thấm, hoặc ăn mòn cốt thép. Kết quả kiểm định là cơ sở để lập kế hoạch bảo trì, gia cố, đảm bảo an toàn kết cấu chịu lực và kéo dài tuổi thọ công trình. Hơn nữa, dữ liệu thu thập được từ các đợt kiểm định còn giúp hoàn thiện tiêu chuẩn thiết kế và quy trình giám sát thi công cho các dự án trong tương lai, đặc biệt là các hạng mục quan trọng như chống thấm cho bể nước.

II. Các yếu tố ảnh hưởng chất lượng cường độ bê tông Trà Vinh

Cường độ bê tông thực tế tại công trình chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố phức tạp, từ khâu lựa chọn vật liệu đến quá trình thi công và bảo dưỡng. Chất lượng và số lượng xi măng, tỷ lệ nước/xi măng (N/XM), và cấp phối cốt liệu là những yếu tố nền tảng. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc sử dụng xi măng không đúng mác hoặc cốt liệu lẫn tạp chất có thể làm giảm cường độ tới 30-40%. Tại Trà Vinh, nguồn cốt liệu không có sẵn tại chỗ, phải vận chuyển từ nơi khác về, làm tăng nguy cơ về sự thiếu đồng nhất. Bên cạnh đó, quy trình thi công đóng vai trò quyết định. Công tác giám sát thi công, kỹ thuật đầm nén, và chế độ bảo dưỡng sau khi đổ bê tông ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển cường độ và cấu trúc của bê tông. Đặc biệt, độ sụt bê tông là một chỉ số quan trọng cần được kiểm soát chặt chẽ tại hiện trường để đảm bảo tính công tác và chất lượng cuối cùng. Việc thiếu kiểm soát trong các khâu này dẫn đến hệ số biến động cường độ bê tông (υ) cao, cho thấy chất lượng không đồng đều ngay trong cùng một hạng mục công trình, như đã được ghi nhận trong nghiên cứu thực tế.

2.1. Tác động từ vật liệu và quy trình giám sát thi công

Chất lượng vật liệu đầu vào bao gồm xi măng, cát, đá và nước có ảnh hưởng trực tiếp. Cát nhiễm mặn hoặc đá dăm chứa nhiều tạp chất sét sẽ làm suy yếu liên kết giữa hồ xi măng và cốt liệu. Thêm vào đó, quy trình giám sát thi công lỏng lẻo, không kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ cấp phối, độ sụt bê tông và thời gian trộn có thể tạo ra các mẻ bê tông không đạt mác bê tông và cấp độ bền thiết kế. Việc đầm dùi không kỹ sẽ tạo ra các lỗ rỗng, làm giảm khả năng chịu lực và khả năng chống thấm của kết cấu.

2.2. Thách thức trong việc xác định mác bê tông và cấp độ bền

Việc xác định mác bê tông và cấp độ bền thực tế tại hiện trường là một thách thức. Các phương pháp thí nghiệm truyền thống trên mẫu đúc tại phòng thí nghiệm không phải lúc nào cũng phản ánh chính xác chất lượng bê tông trong kết cấu thực. Điều kiện bảo dưỡng mẫu tại phòng thí nghiệm (điều kiện tiêu chuẩn) khác xa với điều kiện tại công trường (chịu ảnh hưởng của nắng, gió, mưa). Do đó, cần áp dụng các phương pháp kiểm tra trực tiếp trên kết cấu để có kết quả đáng tin cậy, làm cơ sở cho việc nghiệm thu công trình xây dựng.

III. Phương pháp không phá hủy đánh giá cường độ bê tông tại chỗ

Các phương pháp không phá hủy (Non-Destructive Testing - NDT) là công cụ hiệu quả để đánh giá nhanh chất lượng bê tông trực tiếp trên kết cấu mà không làm ảnh hưởng đến khả năng chịu lực. Hai phương pháp phổ biến nhất được áp dụng tại các công trình cấp nước Trà Vinh là sử dụng súng bật nẩy Schmidtphương pháp siêu âm bê tông. Phương pháp súng bật nẩy hoạt động dựa trên nguyên lý đo độ cứng bề mặt của bê tông, từ đó suy ra cường độ chịu nén thông qua biểu đồ chuẩn. Theo tiêu chuẩn TCVN 9335:2012, phương pháp này cho kết quả nhanh chóng, phù hợp cho việc kiểm tra trên diện rộng để đánh giá độ đồng nhất. Trong khi đó, phương pháp siêu âm bê tông đo vận tốc xung siêu âm truyền qua kết cấu. Vận tốc truyền sóng càng cao cho thấy bê tông càng đặc chắc và có cường độ tốt hơn. Khi kết hợp cả hai phương pháp, độ chính xác của kết quả đánh giá được nâng cao đáng kể, giúp khắc phục nhược điểm của từng phương pháp riêng lẻ. Các kết quả này phải được hiệu chỉnh dựa trên đường chuẩn xây dựng từ các mẫu thực tế hoặc mẫu khoan tại công trình.

3.1. Kỹ thuật dùng súng bật nẩy Schmidt theo TCVN 9335 2012

Phương pháp sử dụng súng bật nẩy Schmidt được quy định chi tiết trong tiêu chuẩn TCVN 9335:2012. Kỹ thuật này đo chỉ số bật nẩy (trị số n) khi một lò xo trong súng tác động lên bề mặt bê tông. Để có kết quả chính xác, bề mặt thí nghiệm phải phẳng, sạch và khô. Các phép đo được thực hiện trên một lưới điểm xác định, sau đó lấy giá trị trung bình để suy ra cường độ tương ứng từ biểu đồ quan hệ chuẩn. Phương pháp này đặc biệt hữu ích để khoanh vùng các khu vực bê tông có chất lượng kém, cần kiểm tra chi tiết hơn bằng các phương pháp khác.

3.2. Ứng dụng phương pháp siêu âm bê tông xác định độ đồng nhất

Phương pháp siêu âm bê tông đo thời gian một xung siêu âm truyền từ đầu phát đến đầu thu qua một khoảng cách đã biết trong kết cấu bê tông. Từ đó, vận tốc truyền sóng được tính toán. Phương pháp này không chỉ ước tính cường độ mà còn rất hiệu quả trong việc phát hiện các khuyết tật bên trong như lỗ rỗng, vết nứt hoặc sự phân tầng vật liệu. Bằng cách quét siêu âm trên một khu vực rộng, có thể tạo ra bản đồ chất lượng, thể hiện rõ sự đồng nhất của bê tông trong toàn bộ cấu kiện, hỗ trợ đắc lực cho công tác đánh giá tổng thể.

IV. Bí quyết khoan lấy mẫu bê tông hiện trường cho kết quả chuẩn

Phương pháp khoan lấy mẫu bê tông hiện trường được xem là phương pháp chuẩn để xác định cường độ chịu nén với độ chính xác cao nhất. Không giống như các phương pháp NDT, phương pháp này cung cấp một mẫu vật lý trực tiếp từ kết cấu, loại bỏ các yếu tố suy đoán. Quy trình này tuân thủ nghiêm ngặt các tiêu chuẩn như TCVN 3105:1993 và ASTM C42. Mũi khoan kim cương được sử dụng để lấy các mẫu lõi hình trụ từ các vị trí đã được xác định trước, tránh cắt vào cốt thép chịu lực chính. Các mẫu lõi sau đó được vận chuyển về phòng thí nghiệm LAS-XD để gia công (cắt phẳng hai đầu, capping) và tiến hành thí nghiệm nén mẫu bê tông cho đến khi phá hủy. Kết quả nén phá hủy (P) được dùng để tính toán cường độ thực tế (Rht) sau khi áp dụng các hệ số hiệu chỉnh về kích thước mẫu, phương khoan và sự có mặt của cốt thép. Nghiên cứu tại Trà Vinh cho thấy, kết quả từ phương pháp này thường thấp hơn nhưng chính xác hơn so với các phương pháp không phá hủy, cung cấp cơ sở tin cậy nhất cho việc đánh giá an toàn kết cấu chịu lực.

4.1. Quy trình khoan lấy mẫu bê tông hiện trường theo tiêu chuẩn

Quy trình khoan lấy mẫu bê tông hiện trường bắt đầu bằng việc xác định vị trí khoan bằng máy dò cốt thép để tránh làm hỏng kết cấu. Đường kính mũi khoan phải lớn hơn ít nhất 3 lần kích thước cốt liệu lớn nhất. Sau khi lấy mẫu, lỗ khoan phải được xử lý, trám vá bằng vữa chuyên dụng để phục hồi khả năng làm việc và chống thấm cho bể nước. Mẫu khoan được đánh dấu cẩn thận về vị trí, hướng khoan và được bảo quản đúng cách để đảm bảo độ ẩm tự nhiên không thay đổi trước khi đưa về phòng thí nghiệm.

4.2. Phân tích kết quả thí nghiệm nén mẫu bê tông tại LAS XD

Tại phòng thí nghiệm LAS-XD, các mẫu lõi được đo đạc kích thước chính xác. Hai đầu mẫu được mài phẳng hoặc capping bằng vữa lưu huỳnh để đảm bảo lực nén được phân bố đều. Mẫu được đặt vào máy nén và gia tải với tốc độ không đổi cho đến khi bị phá hủy, tuân thủ tiêu chuẩn TCVN 3118:1993. Tải trọng phá hủy được ghi lại để tính toán cường độ. Việc phân tích báo cáo kết quả thí nghiệm cần xem xét các hệ số hiệu chỉnh cần thiết để quy đổi về cường độ của mẫu lập phương tiêu chuẩn, từ đó có kết quả cuối cùng.

V. Kết quả thực tiễn đánh giá bê tông công trình cấp nước TV

Nghiên cứu thực nghiệm tại một số công trình cấp nước trọng điểm ở Trà Vinh như trạm cấp nước xã Đại Phước và Nguyệt Hóa đã cung cấp những dữ liệu quý giá. Báo cáo kết quả thí nghiệm cho thấy một bức tranh đa dạng về chất lượng bê tông. Cụ thể, tại hạng mục Đài nước 50m3 (xã Đại Phước), cường độ bê tông hiện trường (Rht) đo bằng phương pháp khoan lấy mẫu là 22,16 MPa. Mặc dù giá trị này thấp hơn mác thiết kế M250 (25 MPa), nhưng sau khi so sánh với cường độ yêu cầu (Ryc = 24,14 MPa) theo tiêu chuẩn TCXDVN 239:2006, kết quả vẫn đạt yêu cầu (Rht > 0,9 Ryc). Điều này cho thấy kết cấu vẫn đảm bảo khả năng chịu lực. Tuy nhiên, sự chênh lệch này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm tra thực tế thay vì chỉ dựa vào hồ sơ thiết kế. Hệ số biến động cường độ (υ) tại một số hạng mục khá cao, cho thấy chất lượng thi công không đồng đều. Các phát hiện này là cơ sở quan trọng để các đơn vị kiểm định xây dựng Trà Vinh tư vấn cho chủ đầu tư về các biện pháp duy tu, bảo dưỡng phù hợp.

5.1. Phân tích báo cáo kết quả thí nghiệm tại các trạm cấp nước

Các báo cáo kết quả thí nghiệm được tổng hợp từ nhiều vị trí khác nhau trên cùng một hạng mục (thân đài, nắp bầu đài, thành bể). Việc phân tích so sánh kết quả giữa các phương pháp NDT và phương pháp khoan lõi cho thấy phương pháp khoan lõi luôn cho giá trị cường độ thấp hơn nhưng có độ tin cậy cao hơn. Sự chênh lệch này có thể do ảnh hưởng của điều kiện bảo dưỡng thực tế, độ ẩm và vi nứt trong kết cấu mà các phương pháp NDT khó phát hiện đầy đủ.

5.2. So sánh cường độ thực tế và cường độ thiết kế ban đầu

Việc so sánh cường độ thực tế (Rht) và cường độ thiết kế (Mác) là bước cuối cùng trong quá trình đánh giá. Kết quả tại Trà Vinh cho thấy nhiều mẫu có cường độ chịu nén thấp hơn so với thiết kế. Tuy nhiên, khi xét theo tiêu chuẩn nghiệm thu công trình xây dựng hiện hành (ví dụ TCXDVN 239:2006), phần lớn các hạng mục vẫn đạt yêu cầu an toàn. Điều này cho thấy các tiêu chuẩn đã có xét đến hệ số an toàn và sự biến động chất lượng trong thực tế thi công, đảm bảo công trình vận hành ổn định.

VI. Hướng đi tương lai cho kiểm định chất lượng công trình TV

Từ những kết quả đánh giá cường độ bê tông tại các công trình cấp nước Trà Vinh, có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm và định hướng cho tương lai. Trước hết, cần tăng cường và chuẩn hóa công tác giám sát thi công ngay từ giai đoạn đầu, đặc biệt là khâu kiểm soát vật liệu đầu vào và quy trình đổ, đầm, bảo dưỡng bê tông. Việc áp dụng đồng bộ các phương pháp kiểm định, kết hợp giữa phương pháp không phá hủy để sàng lọc và phương pháp khoan lấy mẫu để xác định chính xác tại các vị trí trọng yếu, sẽ nâng cao hiệu quả và độ tin cậy của công tác đánh giá. Các đơn vị kiểm định xây dựng Trà Vinh cần liên tục cập nhật công nghệ, thiết bị mới và nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ kỹ sư. Việc xây dựng một cơ sở dữ liệu về chất lượng bê tông của các công trình trên địa bàn tỉnh sẽ là nguồn thông tin hữu ích cho công tác quản lý, quy hoạch và thiết kế các dự án hạ tầng trong tương lai. Hơn nữa, quy trình nghiệm thu công trình xây dựng cần được thực hiện một cách chặt chẽ, minh bạch, dựa trên các kết quả kiểm định khách quan.

6.1. Tầm quan trọng của nghiệm thu công trình xây dựng chặt chẽ

Quy trình nghiệm thu công trình xây dựng là chốt chặn cuối cùng để đảm bảo chất lượng trước khi đưa vào sử dụng. Quy trình này phải dựa trên bộ dữ liệu kiểm tra đầy đủ, bao gồm kết quả thí nghiệm nén mẫu bê tông, kiểm tra kích thước hình học, và các thử nghiệm chức năng khác. Một quy trình nghiệm thu chặt chẽ sẽ buộc nhà thầu phải tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu kỹ thuật, từ đó nâng cao chất lượng công trình và đảm bảo an toàn kết cấu chịu lực lâu dài.

6.2. Đề xuất cho các đơn vị kiểm định xây dựng tại Trà Vinh

Các đơn vị kiểm định xây dựng Trà Vinh nên đầu tư xây dựng các biểu đồ quan hệ chuẩn (đường chuẩn) riêng cho các loại bê tông phổ biến sử dụng vật liệu tại địa phương. Điều này sẽ tăng độ chính xác cho các phương pháp không phá hủy. Ngoài ra, việc phối hợp chặt chẽ với các cơ quan quản lý nhà nước và chủ đầu tư để xây dựng kế hoạch kiểm định định kỳ cho các công trình hạ tầng quan trọng là một hướng đi cần thiết, góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh.

04/10/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BÊ TÔNG VÀ VIỆC SỬ DỤNG VẬT LIỆU BÊ TÔNG CHO CÁC CÔNG TRÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH TRÀ VINH 1. Các khái niệm cơ bản về bê tông - bê tông cốt thép Bê tông là một trong những loại vật liệu rất quan trọng được sử dụng rộng rãi trong các công trình cấp nước và các công trình xây dựng khác vì nó có những ưu điểm sau: Có cường độ chịu nén cao, bền trong môi trường. Cốt liệu có thể sử dụng nguyên liệu địa phương. Dễ cơ giới hóa, tự động hóa quá trình sản xuất và thi công.

Có thể tạo được nhiều loại bê tông có tính chất khác nhau, các loại bê tông phổ biến là: bê tông tươi, bê tông nhựa, bê tông Asphalt, bê tông Polime và các loại bê tông đặc biệt khác. Bê tông được sử dụng rộng rãi trong xây dựng các công trình kiến trúc, móng, gạch không nung hay gạch block, mặt lát của vỉa hè, cầu và cầu vượt, đường lộ, đường băng, các cấu trúc trong bãi đỗ xe, đập, hồ chứa/bể chứa nước, các công trình cấp nước, ống cống, chân cột cho các cổng, hàng rào, cột điện. - Bê tông là một loại đá nhân tạo, được hình thành bởi việc trộn các thành phần: Cốt liệu thô, cốt liệu mịn, chất kết dính,. theo một tỷ lệ nhất định (được gọi là cấp phối bê tông).

- Bê tông là một loại đá nhân tạo được chế tạo từ các vật liệu rời (cát, đá, sỏi) và chất kết dính. Vật liệu rời được gọi là cốt liệu, gồm các cở hạt khác nhau, loại bé là cát có kích thước từ 1,0mm-5,0mm, loại lớn là sỏi hoặc đá dăm có kích thước 5,0mm-40 mm hoặc lớn hơn. Chất kết dính thường là xi măng trộn với nước hoặc các chất dẽo khác. Cường độ chịu kéo của bê tông nhỏ hơn cường độ chịu nén rất nhiều (8-15 lần).

Ngoài các thành phần chính như trên, người ta còn có thể thêm các phụ gia để cải thiện một số tính chất của bê tông trong lúc thi công cũng như trong quá trình sử dụng. Phụ gia có nhiều loại khác nhau, có loại để nâng cao độ dẽo hổn hợp bê tông, có loại dùng để tăng nhanh hoặc kéo dài thời gian đông kết của xi măng, có loại để nâng cao cường độ của bê tông trong thời gian đầu, có loại để tăng khả năng chống thấm v. Nước để trộn bê tông gồm hai phần. Một phần để hóa hợp với xi măng, một phần nữa như là phụ gia làm cho hổn hợp bê tông có được độ dẽo (nhão) cần thiết lúc trộn, đổ khuôn và đầm chắc.

Lượng nước tham gia phản ứng hóa hợp chỉ chiếm khoản một phần năm trọng lượng xi măng và là cần thiết. Lượng nước thêm vào để trộn bê tông, về sau khi bê tông đã khô cứng sẽ trở thành nước thừa, một phần bốc hơi để lại những lỗ rỗng li ti trong cấu trúc của bê tông, làm giảm độ đặc chắc và cường độ của nó. Nguyên lý tạo nên bê tông là dùng các cốt liệu lớn làm thành bộ xương, các cốt liệu nhỏ lắp đầy khoảng trống và dùng chất kết dính để liên kết chúng tạo thành một thể đặc chắc có khả năng chịu lực và chống lại các biến dạng. 4 Bê tông có cấu trúc không đồng nhất vì hình dáng, kích thước các hạt cốt liệu khác nhau, sự phân bố của các hạt cốt liệu và chất kết dính không thật đồng đều, trong bê tông vẫn còn lại một ít nước thừa và những lỗ rỗng li ti (do nước thừa bốc hơi).

Tùy theo thành phần và cấu trúc của bê tông mà người ta phân loại chúng theo nhiều cách khác nhau: + Theo cấu trúc có các loại: bê tông đặc chắt; bê tông có lỗ rỗng (dùng ít cát); bê tông tổ ong. + Theo khối lượng riêng phân thành: bê tông nặng thông thường có khối lượng riêng =22002500 kG/cm3; bê tông nặng cốt liệu bé =18002200 kG/cm3; bê tông nhẹ <1800; bê tông đặc biệt nặng >2500. + Theo thành phần có: bê tông thông thường; bê tông cốt liệu bé; bê tông chèn đá học. + Theo phạm vi sử dụng: bê tông làm kết cấu chịu lực; bê tông chịu nóng; bê tông cách nhiệt; bê tông chống xâm thực v.

- Bê tông cốt thép là một loại vật liệu xây dựng phức hợp do bê tông và cốt thép cùng cộng tác chịu lực với nhau. Về sức bền vật lý, bê tông chịu lực nén khá tốt nhưng khả năng chịu lực kéo không tốt lắm và là một loại vật liệu giòn. Trong khi đó cốt thép là vật liệu chịu kéo hoặc chịu nén đều rất tốt. Vì vậy, trong xây dựng các công trình, các vật liệu chịu lực kéo tốt (ví dụ thép) được sắp xếp để đưa vào trong lòng khối bê tông, đóng vai trò là bộ khung chịu lực nhằm cải thiện khả năng chịu kéo của bê tông.

Do vậy người ta đã đặt cốt thép vào trong bê tông để tăng cường khả năng chịu lực cho kết cấu, từ đó sản sinh ra bê tông cốt thép. Loại bê tông có phần lõi thép này được gọi là bê tông cốt thép. Dầm bê tông và bê tông cốt thép a) Dầm bê tông; b) Sơ đồ ứng suất trên tiết diện 1-1; c) Dầm bê tông cốt thép; d) Sơ đồ ứng suất trên tiết diện 2-2; 1-Vùng bê tông chịu nén; 2-Vùng bê tông chịu kéo; 3-Cốt thép; 4-Vết nứt trong bê tông chịu kéo Trên hình 1.1a ta thấy khi ứng suất kéo t vượt quá cường độ chịu kéo của bê tông thì vết nứt sẽ xuất hiện, vết nứt đi dần lên phía trên và dầm bị gãy khi ứng suất b còn khá nhỏ so với cường độ chịu nén của bê tông. Như thế là lãng phí khả năng chịu nén của bê tông.

Nếu đem đặt cốt thép vào vùng bê tông chịu kéo, lực kéo sẽ do cốt thép chịu, nhờ đó có thể tăng tải trọng đến khi ứng suất b đạt tới cường độ chịu nén 5 của bê tông và ứng suất z đạt tới cường độ chịu kéo của cốt thép; Trong dầm chịu uốn còn có xuất hiện cả ứng suất tiếp và do đó có ứng suất chính. Khi ứng suất kéo chính lớn hơn cường độ chịu kéo của bê tông sẽ gây ra các vết nức nghiêng, vì vậy cũng cần bố trí cốt thép để chịu ứng suất kéo này. Dầm bê tông cốt thép có thể chịu lực nhiều hơn dầm bê tông có cùng kích thước đến hàng chục lần. Bê tông và cốt thép có thể cùng tham gia chịu lực là do các yếu tố sau: + Bê tông và cốt thép dính chặt với nhau nên có thể truyền lực từ bê tông sang cốt thép và ngược lại.

Lực dính có tầm quan trọng hàng đầu đối với vật liệu bê tông cốt thép. + Giữa bê tông và cốt thép không xảy ra phản ứng hóa học. Đồng thời bê tông còn làm chức năng bao bọc, bảo vệ cốt thép chống các tác dụng ăn mòn của môi trường. Đây cũng là lý do khi sử dụng các loại phụ gia hóa dẻo và đông cứng nhanh cần phải bảo đảm quá trình đầm nén bê tông đạt đến độ lèn chặt cần thiết.

+ Bê tông và cốt thép có hệ số giãn nỡ nhiệt gần giống nhau (hệ số giãn nở nhiệt của bê tông từ 0,000010 đến 0,000015 và hệ số giãn nở nhiệt của thép là 0,000012). Do đó khi có sự thay đổi nhiệt độ dưới 100°C thì trong cấu kiện bê tông cốt thép không xuất hiện nội ứng suất đáng kể, không làm phá hoại lực dính giữa bê tông và cốt thép. Theo phương pháp thi công, có thể phân loại bê tông cốt thép chia ra làm ba loại: + Bê tông cốt thép toàn khối (hay còn gọi là bê tông cốt thép đổ tại chổ): Người ta ghép ván khuôn, đặt cốt thép và đổ bê tông ngay tại vị trí thiết kế của kết cấu. + Bê tông cốt thép lắp ghép: Người ta phân chia kết cấu thành những kết cấu riêng biệt để có thể chế tạo chúng ở nhà máy hoặc sân bãi, vận chuyển chúng đến công trường sau đó dùng cần cẩu lắp ghép rồi nối chúng lại với nhau thành kết cấu tại vị trí thiết kế.

+ Bê tông cốt thép nữa lắp ghép: Người ta lắp ghép các cấu kiện chưa được chế tạo hoàn chỉnh sau đó đặt thêm cốt thép, ghép thêm ván khuôn rồi đổ tại chổ bê tông phần còn lại (kể cả mối nối). Nếu phân theo trạng thái ứng suất khi chế tạo có hai loại sau: + Bê tông cốt thép thường: Khi chế tạo, cốt thép ở trạng thái không có ứng suất, ngoài nội ứng suất do co ngót và giãn nở nhiệt của bê tông. Cốt thép chỉ chịu ứng suất khi cấu kiện chịu lực ngoài (kể cả trọng lượng bản thân). + Bê tông cốt thép ứng suất trước: Căng trước cốt thép đến ứng suất cho phép, khi buông cốt thép, nó sẽ co lại, tạo ứng suất nén trước trong tiết diện bê tông, nhằm mục đích khử ứng suất kéo trong tiết diện bê tông khi nó chịu ngoại lực, làm hạn chế vết nứt và độ võng.

Cường độ của bê tông và các yếu tố ảnh hưởng - Cường độ là chỉ tiêu quan trọng thể hiện khả năng chịu lực của vật liệu. Cường độ của bê tông phụ thuộc vào thành phần và cấu trúc của nó. Để xác định cường độ của bê tông người ta dùng thí nghiệm mẫu. Thông thường là chế tạo ra các mẫu thử và 6 thí nghiệm phá hoại các mẫu đó.

Một cách khác là thí nghiệm không phá hoại, xác định cường độ một cách gián tiếp bằng cách dùng sóng siêu âm, súng bậc nẩy. Trong kết cấu xây dựng, bê tông chịu nhiều tác động khác nhau: chịu nén, uốn, kéo, trượt, trong đó chịu nén là ưu thế lớn nhất của bê tông. Do đó, người ta thường dùng cường độ chịu nén là chỉ tiêu đặc trưng để đánh giá chất lượng bê tông. Nói đến cường độ của bê tông là nói đến cường độ tính toán (cường độ chịu nén và cường độ chịu kéo), cường độ đặc trưng và cường độ trung bình.

Cường độ chịu nén và cường độ chịu kéo của bê tông được xác định theo phương pháp thí nghiệm. Xác định cường độ chịu nén – mẫu thử Xác định cường độ chịu kéo (mẫu chịu kéo trung tâm và mẫu chịu kéo khi uốn) Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ