Đặt vấn đề Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đất. Đó là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng. Mỗi quốc gia, mỗi địa phương có một quỹ đất đai nhất định được giới hạn bởi diện tích, ranh giới, vị trí.Việc sử dụng và quản lý quỹ đất đai này được thực hiện theo quy định của nhà nước, tuân thủ luật đất đai và những văn bản pháp lý có liên quan. Luật đất đai năm 2003 ra đời đã xác định đất đai thuộc sở hữu toàn dân và do nhà nước thống nhất quản lý.
Để đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý đất đai thì công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được thực hiện nghiêm túc. Công tác này không chỉ đảm bảo sự thống nhất quản lý mà còn bảo đảm các quyền lợi và nghĩa vụ cho người sử dụng, giúp cho người sử dụng đất yên tâm đầu tư, sản xuất, xây dựng các công trình. Hiện nay vấn đề về đất đai là vấn đề được toàn xã hội quan tâm ,hiện nay nhà nước đã giao trách nhiệm cho các ngành địa chính phối hợp cùng các chính quyền địa phương thực hiện hàng loạt các biện pháp đo đạc , phân hạng đánh giá đất đai quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.Trong đó công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hết sức quan trọng , nó trực tiếp liên quan đến quyền lợi của người sử dụng đất là văn bản pháp lý cao nhất xác nhận mối quan hệ hợp pháp giữa nhà nước và chủ sử dụng đất để chủ sử dụng đất yên tâm sản xuất, chủ động đầu tư khai thác tốt tiềm năng của đất và chấp hành tốt luật đất đai. Cùng với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước như ngày nay đã làm cho thị trường bất động sản trở nên sôi động, trong đó đất đai là hàng hoá chủ yếu của thị trường này.
Nhưng thực tế trong thị trường này thị trường ngầm phát triển rất mạnh mẽ. Đó là vấn đề đáng lo ngại nhất hiện nay. Để đảm bảo cho thị trường này hoạt động công khai, minh n 2 bạch thì yêu cầu công tác đăng ký cấp giấy chứng nhận phải được tiến hành. Ngoài ra một vấn đề quan trọng của việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giúp cho nhà nước có cơ sở pháp lý trong việc thu tiền sử dụng đất, tăng nguồn ngân sách cho nhà nước.
Đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thị trấn Chũ mặc dù đã được các ngành các cấp quan tâm nhưng kết quả còn nhiều hạn chế. Việc tìm hiểu và đánh giá tình hình thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thị trấn Chũ huyện Lục Ngạn giúp UBND huyện với tư cách đại diện nhà nước sở hữu về đất đai có những biện pháp đẩy nhanh công tác này. Do những yêu cầu cấp thiết như trên là sinh viên lớp Địa chính môi trường, khoa Quản lý tài nguyên, Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Được sự đồng ý của chủ nhiệm khoa Quản lý tài nguyên,em thực hiện chuyên đề “Đánh giá công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn thị trấn Chũ - Huyện Lục Ngạn - Tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2011-2013”.2 Mục tiêu của đề tài 1.1 Mục tiêu tổng quát Đánh giá công tác đăng ký, cấp GCNQSD đất tại thị trấn Chũ huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang qua đó đề xuất những giải pháp khả thi để phục vụ quá trình quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, khoa học và có hiệu quả cao trong thời gian tiếp theo.2 Mục tiêu cụ thể -Vận dụng lý thuyết để phân tích, đánh giá công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở thị trấn Chũ - Xác định một số nguyên nhân ảnh hưởng đến quá trình cấp GCNQSD đất của thị trấn Chũ. - Đề xuất một số giải pháp chủ yếu để đẩy nhanh tiến độ và hoàn thành công tác đăng ký , cấp GCNQSD đất ở thị trấn Chũ.
- Nắm vững những quy định của pháp luật về đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo luật đất đai năm 1993; luật đất đai sửa đổi 2003; hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai của trung ương và địa phương. - Các số liệu thu được phải chính xác, phải phản ánh khách quan trung thực công tác đăng ký đất đai, cấp GCN QSDĐ của địa phương. n 3 - Các giải pháp đưa ra phải phù hợp với địa phương và phải có tính khả thi.3 Ý nghĩa của đề tài - Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp củng cố lại những kiến thức đã học trong nhà trường và bước đầu làm quen với công tác cấp GCNQSD đất trong thực tiễn. - Trên thực tế: Đề tài đánh giá, phân tích tìm ra những thuận lợi khó khăn của công tác cấp GCN QSDĐ.
Đưa ra những kiến nghị đề xuất với các cấp có thẩm quyền để có những giải pháp phù hợp cho công tác cấp GCNQSD đất nói riêng và công tác quản lý nhà nước nói chung được tốt hơn. n 4 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT. Lịch sử của công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 1, Giai đoạn trước khi có Luật đất đai * Giai đoạn 1955 -1959 Ngày 14/12/ 1953 Đảng và Nhà nước ta ban hành Luật cải cách ruộng đất nhằm mục đích đánh đổ hoàn toàn chế độ phong kiến thực dân thực hiện triệt để khẩu hiệu: “Người cày có ruộng” Giai cấp phong kiến đã sụp đổ hoàn toàn, chế độ sử dụng đất đã thay đổi về cơ bản, mơ ước từ ngàn đời có ruộng của nông dân đã trở thành hiện thực.
Chính sách đất đai của chúng ta trong giai đoạn này mang tính “Chấn hưng nông nghiệp”. Bước ngoặt này đã tạo cơ sở tăng sản lượng lương thực, kinh tế đất nước được phục hồi. Trước tình hình đó ngày 03/07/1958 Chính phủ ban hành ra Chỉ thị 354/CT-TTg cho tái lập hệ thống địa chính trong Bộ tài chính với chức năng chủ yếu quản lý diện tích ruộng đất để thu thuế nông nghiệp. Sau khi hoàn thành cải cách ruộng đất ở miền Bắc thì người dân đã có ruộng cày cấy và yên tâm sản xuất.
Hiến pháp năm 1959 quy định 3 hình thức sở hữu về đất đai: Sở hữu tư nhân; sở hữu tập thể; sở hữu Nhà nước. * Giai đoạn 1959 - 1980 Đảng và Nhà nước chủ trương khuyến khích kinh tế hợp tác xã, kết quả là năm 1960 phong trào hợp tác xã nông nghiệp đã cuốn hút khoảng 90% nông dân tham gia. Trong giai đoạn này gần như toàn bộ đất đai thuộc hình thức sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể và sở hữu tư nhân. Từ năm 1960 - 1980 tới 90% đất đai thuộc sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể, thành phần kinh tế quốc doanh và kinh tế hợp tác xã sử dụng.
Ngày 09/02/1980 Chính phủ ban hành Nghị định số 70/NĐ- CP về nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức ngành Địa chính. Nội dụng Nghị định là chuyển ngành Địa chính n 5 từ Bộ tài chính sang Bộ Nông nghiệp và đổi tên là ngành Quản lý ruộng đất. Nghị định cũng nêu lên nhiệm vụ của ngành Địa chính đó là : + Tổ chức công tác đo đạc lập các loại bản đồ và tài liệu ruộng đất dùng trong nông nghiệp. + Tiến hành việc quản lý ruộng đất.
+ Thống kê diện tích, phân loại ruộng đất trong nông nghiệp. Tiếp đó Chính phủ ra Nghị định 71/NĐ-CP ngày 19/12/1976 quy định về nhiệm vụ Quản lý ruộng đất bao gồm : a. Lập bản đồ, địa bạ về ruộng đất, thường xuyên chỉnh lý bản đồ và địa bạ cho phù hợp với sự thay đổi về hình thể thửa đất, về tình hình canh tác và cải tạo đất. Thống kê diện tích, phân loại chất đất.
Nghiên cứu xây dựng các luật lệ, thể lệ quản lý ruộng đất trong nông nghiệp và hướng dẫn kiểm tra việc thi hành các luật lệ ấy. Tuy nhiên, trong quá trình tiến hành nhiều địa phương đã buông lỏng công tác quản lý đất đai, dẫn đến nhiều hiện tượng như đất bị bỏ hoang, lấn chiếm ruộng đất hợp tác xã, cấp đất trái pháp luật. Năm 1976 Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra đời đã ban hành một số văn bản, điều chỉnh mối quan hệ đất đai cho phù hợp với tình hình mới. Nhà nước thực hiện kiểm tra, thống kê, đất đai trong cả nước để thực hiện nội dung đó Chính phủ ban hành Quyết định số 169/QĐ- CP ngày 20/06/1977.
Từ năm 1979 căn cứ Nghị quyết 548/NQ-QH ngày 25/05/1979 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Chính phủ đã ban hành Nghị định số 404/NĐ- CP ngày 09/11/1979 thành lập hệ thống quản lý đất đai thuộc Hội đồng Bộ trưởng và UBND các cấp. Trong Điều 1 Nghị định 404/NĐ- CP có nêu: Tổng cục quản lý ruộng đất là cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ, có trách nhiệm giúp Hội đồng Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước đối với toàn bộ ruộng đất trên lãnh thổ cả nước, nhằm phát triển sản xuất, bảo vệ đất đai và môi trường, sử dụng đất tiết kiệm hợp lý, có hiệu quả cao đối với các loại đất. * Giai đoạn từ 1980 đến 1988 n 6 Hiến pháp 1980 ra đời đã đánh dấu một bước mới, chấm dứt chế độ sở hữu cá nhân và tập thể về đất đai.
Hiến pháp 1980 quy định: Nhà nước là chủ sở hữu toàn bộ đất đai, Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ tài nguyên đất đai của cả nước. Thời điểm này, hệ thống tổ chức quản lý đất đai chưa đủ mạnh và trên phạm vi toàn quốc chưa có quy hoạch sử dụng đất cho mọi loại đất. Trước tình hình đó Đảng và Nhà nước sớm nhận ra và ban hành hàng loạt các văn bản pháp quy phạm nhằm tăng cường công tác quản lý sử dụng đất. - Trước hết là Nghị định 201/NĐ- CP ngày 01/07/1980 của Hội đồng Chính phủ về việc thống nhất quản lý toàn bộ ruộng đất trong cả nước.