Đặt vấn đề Những năm gần đây, do chính sách mở cửa của nền kinh tế. Việc đẩy nhanh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước dẫn đến việc xây dựng cơ sở hạ tầng diễn ra ồ ạt, cùng với nó là nhu cầu sử dụng đất cho các hoạt động: Nhà ở, kinh doanh, dịch vụ ngày càng phát triển, dẫn đến việc quỹ đất nông nghiệp ngày càng giảm mạnh. Trong khi đó nhu cầu về lương thực ngày càng tăng nhanh gây áp lực đối với nhà quản lý đất đai, đồng thời nó đã làm cho giá trị quyền sử dụng đất tăng lên nhanh chóng. Vấn đề cấp bách đặt ra cho công tác quản lý nhà nước về đất đai là phải có những biện pháp quản lý chặt chẽ và có hiệu quả.
Nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất cũng như tránh xảy ra tranh chấp đất đai gây mất trật tự xã hội. Nhằm quản lý tốt về đất đai Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định “Đất đai là thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước thống nhất quản lí”. Để đảm bảo tính thống nhất trong công tác quản lý đất đai thì công tác đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phải được thực hiện nghiêm túc. Công tác này xác lập mối quan hệ pháp lý về quyền sử dụng đất đai giữa Nhà nước và người sử dụng đất, nó không những đảm bảo sự thống nhất về quản lý mà còn đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho người sử dụng giúp người sử dụng đất yên tâm đầu tư, kinh doanh, đây cũng là cơ sở pháp lý cho việc thu tiền sử dụng đất, tăng nguồn ngân sách cho Nhà nước.
Tuy nhiên trên thực tế công tác đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đặc biệt là công tác chuyển nhượng QSDĐ còn gặp nhiều khó khăn. Quá trình thực hiện luật đất đai cũng như các quy định khác còn nhiều hạn chế trong khâu tổ chức thực hiện. Nhiều văn bản có tính chất pháp lý còn chồng chéo, mâu thuẫn. Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho hộ gia đình còn chậm.
Việc tranh chấp đất đai diễn ra với nhiều hình thức. n 2 Đứng trước thực trạng đó, để công tác quản lý và sử dụng đất đai ngày càng có hiệu quả đòi hỏi nhiệm vụ quản lý đất đai phải được coi trọng hơn bao giờ hết. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất được thành lập đã giúp Nhà nước thực hiện tốt hơn nhiệm vụ ấy. Được sự đồng ý của nhà trường, sự phân công của khoa Quản lý Tài nguyên và sự hướng dẫn của giảng viên PGS.
Nguyễn Khắc Thái Sơn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2014 - 2016” 1. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Đánh giá thực trạng công tác chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Thành Công giai đoạn 2014 - 2016, để tìm ra những thuận lợi, khó khăn từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho địa phương trong thời gian tới. Mục tiêu cụ thể - Đánh giá được công tác chuyển quyền sử dụng đất tại xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 2014 - 2016.
- Đánh giá được ý kiến của người dân về công tác chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. - Đánh giá được những tồn tại và đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác chuyển nhượng quyền sử dụng đất trên địa bàn xã Thành Công, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Cơ sở lý luận của đề tài Luật Đất đai 2003, Nhà nước vẫn tiếp tục mở rộng quyền được chuyển QSDĐ của người sử dụng đất như Luật Đất đai 1993 nhưng mở rộng thêm hình thức cho tặng QSDĐ, góp vốn và bảo lãnh bằng giá trị QSDĐ. Như vậy, việc thực hiện các quyền năng cụ thể không chỉ đối với đất nông nghiệp mà còn với mọi loại đất. Theo Luật Đất đai năm 2003 thì đất đai được chia thành các nhóm: + Nhóm đất nông nghiệp bao gồm: Đất trồng cây hàng năm; đất trồng cây lâu năm; đất rừng sản xuất; đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối, đất nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ. + Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm: Đất ở (gồm đất ở nông thôn và đất ở đô thị), đất chuyên dùng (gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sở dụng vào mục đích quốc phòng an ninh, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp, đất sử dụng vào mục đích công cộng), đất tôn giáo tín ngưỡng, đất nghĩa trang nghĩa địa, đất sông ngòi kênh rạch, suối mặt nước, đất phi nông nghiệp khác.
+ Nhóm đất chưa sử dụng bao gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử dụng. Cơ sở thực tiễn của đề tài Cùng với sự phát triển của Thế Giới, Việt Nam cũng đang dần đổi mới với xu thế hiện đại hóa đất nước để hội nhập quốc tế. Xã hội ngày càng phát triển, thị trường đất đai ngày càng trở nên sôi động. Vì vậy nhu cầu chuyển QSDĐ của người sử dụng cũng như công tác quản lý nhà nước về lĩnh vực này là một tất yếu khách quan nhằm đạt tới sự phát triển cao hơn, phù hợp n 4 hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng cũng như toàn xã hội.
Trong những năm qua UBND huyện Nguyên Bình đã tập trung chỉ đạo và thực hiện đầy đủ các văn bản pháp luật về đất đai theo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như chủ trương, chính sách của Tỉnh đề ra. UBND huyện Nguyên Bình đã ban hành các văn bản để cụ thể hóa việc quản lý đất đai, công tác ban hành và thực hiện các văn bản luật về đất đai phần nào đã đáp ứng được yêu cầu công tác quản lý và sử dụng đất đai trên đại bàn huyện. Việc xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính được thực hiện tốt trên cơ sở kết quả hoạch định ranh giới theo chỉ thị số 364/CT của Thủ tướng Chính phủ. Ranh giới giữa huyện Nguyên Bình với các huyện giáp ranh cũng được phân định rõ ràng, không có tranh chấp về ranh giới trên địa bàn huyện, cũng như với các huyện lân cận như: Bảo Lạc, Bảo Lâm, huyện Ba Bể ( Bắc Kạn ), Tp.
UBND huyện Nguyên Bình đã tiến hành triển khai đo đạc lập bản đồ tới các xã, thị trấn. Từ năm 1997 đã có 15/15 xã, thị trấn của huyện đã đo đạc lập bản đồ địa chính. Trong đó đo ở tỷ lệ 1/500 được 283,04 ha, tỷ lệ 1/1000 được 17285,61 ha, tỷ lệ 1/5000 được 81,22 ha. Ngoài ra huyện Nguyên Bình đã hoàn thành việc đo đạc bản đồ địa chính cơ sở tỷ lệ 1/10000 cho 100% các xã trong huyện.
UBND huyện đã quan tâm, chỉ đạo các xã khẩn trương tiến hành cấp GCNQSDĐ cho các tổ chức và hộ gia đình, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong thời gian qua đã tập trung thực hiện đồng bộ với công tác quy hoạch sử dụng đất, gắn kết với chống manh mún đất nông nghiệp tạo điều kiện cho các hộ nông dân an tâm sản xuất thực hiện tốt chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước. Công tác thống kê được tiến hành vào ngày 01 tháng 1 hàng năm, UBND huyện chỉ đạo Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện tiến hành lập n 5 thống kê hàng năm. Công tác kiểm kê đất đai được tiến hành 5 năm một lần, theo đúng quy trình, tiến độ đề ra. Việc quản lý tài chính về đất đai trong những năm qua vẫn được Chi cục Thuế huyện Nguyên Bình thực hiện và có báo cáo đầy đủ.
Công tác quản lý tài chính được thực hiện khá tốt. Luật Đất đai năm 2013, chương XI đã quy định về quyền và nghĩa vụ của người tham gia sử dụng đất. Để quản lý các đối tượng sử dụng đất thì cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Huyện Nguyên Bình đã thành lập các đoàn thanh tra liên ngành để kiểm tra xử lý những vi phạm về quản lý sử dụng đất đai đối với một số đơn vị tập thể, cá nhân sử dụng đất sai mục đích, lấn chiếm đất.
UBND huyện Nguyên Bình đã duy trì lịch tiếp dân của Chủ tịch và lãnh đạo các cơ quan liên quan, chỉ đạo thủ trưởng các Phòng, Ban, Chủ tịch UBND các xã, thị trấn thực hiện chế độ tiếp dân đúng quy định tại Nghị định 89/CP của Chính phủ. Ngoài ra, huyện còn tổ chức tiếp nhận các hồ sơ xin cấp GCN do nhân dân trực tiếp kê khai và kê lại đơn xin cấp GCN quyền sử dụng đất theo mẫu mới quy định hiện hành. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất ra đời đã giải quyết những vướng mắc trong công tác cấp GCN, giải quyết phần lớn công việc cho Phòng Tài nguyên và Môi trường trong công tác cấp GCN quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất. Cơ sở pháp lý của đề tài - Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003.
- Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013. - Nghị định số 181/2004/NĐ - CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 do Chính phủ ban hành về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003. n 6 - Nghị định số 105/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai. - Nghị định số 43/2013/NĐ-CP, ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều luật đất đai; - Nghị quyết số 96/2014/NQ-HĐND ngày 16 tháng 7 năm 2014 của HĐND tỉnh Về việc quy định danh mục chi tiết các khoản phí, lệ phí; mức thu và tỷ lệ phần trăm trích, nộp những khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND tỉnh; - Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất; - Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 1 tháng 1 năm 2004 của bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính.