Đặt vấn đề Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh – quốc phòng. Đất đai là nguồn tài chính tiền năng, nguồn nhân lực cơ bản để phát triển kinh tế đất nước. Đất đai được coi là một loại bất động sản, là hàng hóa đặc biệt bởi những tính chất của nó như cố định về vị trí, giới hạn về không gian, vô hạn về thời gian sử dụng và trong quá trình sử dụng nếu sử dụng một cách hợp lý thì giá trị của đất đai không những không bị mất đi mà còn tăng lên. Trong quá trình đổi mới ở nước ta, với mục tiêu “ Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đẩy mạnh phát triển CNH – HĐH và kinh tế tri thức, tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” thì việc chuyển đổi mục đích sử dụng các loại đất, nhất là từ đất nông nghiệp, lâm nghiệp sang đất phi nông nghiệp là một tất yếu khách quan và diễn ra phổ biến ở hầu khắp các địa phương trên phạm vi cả nước.
Thu hồi đất, bồi thường để giải phóng mặt bằng để thực hiện các công trình quốc phòng an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế là một khâu quan trọng, then chốt của quá trình phát triển. Bồi thường giải phóng mặt bằng là điều kiện ban đầu và tiên quyết để triển khai thực hiện các dự án. Bồi thường và giải phóng mặt bằng cũng là một vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp tác động tới mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội và cộng đồng dân cư, ảnh hưởng trực tiếp tới lợi ích của Nhà nước, của chủ đầu tư, đặc biệt đối với các hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi trên phạm vi cả nước, đến từng địa phương, cơ sở. Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư hiện nay được thực hiện theo các 2 quy định của chính phủ như: Điều 42 Luật Đất đai 2003; Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ Quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ Quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai; Nghị định số 69/2009 ngày 13/08/2009 của Chính phủ Quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.
Từ khi ban hành các văn bản trên việc bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất có tiến bộ hơn, đáp ứng được yêu cầu của nhà nước và phù hợp với nguyện vọng của đại đa số nhân dân, khắc phục được nhiều tồn tại, vướng mắc trước đây. Tuy nhiên, việc triển khai cũng còn không ít khó khăn, vướng mắc, có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ chính sách pháp luật liên quan. Vì vậy việc điều tra xã hội học, khảo sát thực tế, phân tích, đánh giá có cơ sở khoa học, trên cơ sở đó đề xuất để sửa đổi bổ sung, hoàn thiện chính sách bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi, góp phần thiết lập trật tự, kỷ cương pháp luật, hạn chế tranh chấp, khiếu kiện về đất đai trong việc bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất là cần thiết. Xuất phát từ lý do đó, được sự đồng ý của Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Quản lý Tài Nguyên - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của cô giáo T.S Vũ Thị Quý em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng dự án xây dựng tuyến đường Yên Trạch – Lạng Giai đoạn qua địa bàn xã Yên Trạch – huyện Cao Lộc – tỉnh Lạng Sơn ”.
Mục đích, yêu cầu của đề tài 1. Mục đích của đề tài Đánh giá công tác bồi thường GPMB khi thực hiện dự án xây dựng tuyến 3 đường Yên Trạch – Lạng Giai nhằm xác định những thuận lợi, khó khăn của công tác bồi thường GPMB từ đó đề xuất những phương án giải quyết có tính khả thi và rút ra những bài học kinh nghiệm cho công tác GPMB. Yêu cầu của đề tài - Đánh giá khái quát được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Yên Trạch. - Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất xã Yên Trạch.
- Đánh giá được tổng quan dự án và những vấn đề liên quan đến “Dự án xây dựng tuyến đường Yên Trạch – Lạng Giai đoạn qua địa bàn xã Yên Trạch – huyên Cao Lộc – tỉnh Lạng Sơn”. - Đánh giá công tác bồi thường GPMB, những thuận lợi và khó khăn trong công tác GPMB tại “Dự án xây dựng tuyến đường Yên Trạch – Lạng Giai đoạn qua địa bàn xã Yên Trạch – huyên Cao Lộc – tỉnh Lạng Sơn”. - Đánh giá được ảnh hưởng của công tác bồi thường GPMB đến đời sống của người dân. - Đề xuất những phương án và giải pháp để giải quyết những khó khăn, nâng cao hiệu quả trong công tác bồi thường GPMB dựa trên cơ sở Nghị định, Quy định và kết quả nghiên cứu.
Ý nghĩa của để tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu Bổ sung kiến thức, kinh nghiệm thực tế và hiểu rõ về công tác quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể là công tác bồi thường giải phóng mặt bằng, những thuận lợi khó khăn khi tiến hành dự án. Ý nghĩa thực tiễn Từ quá trình nghiên cứu đề tài giúp tìm ra những thuận lợi, khó khăn của công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng để từ đó rút ra những bài học, những giải pháp khắc phục, góp phần thúc đẩy tiến độ bồi thường, giải phóng mặt bằng. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU 2.
Cơ sở pháp lý của đề tài 2. Các văn bản pháp quy của nhà nước - Luật đất đai 2003. - Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2003. - Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 chủa Bộ tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. - Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai. - Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 02/07/2007 của Bộ Tài nguyên Môi trường hướng dẫn thi hành Nghị định 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ. - Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính Phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, hỗ trợ và tái định cư.
- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT ngày 01/10/2009 quy định bổ xung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư và trình tự, thủ tục thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất. Các văn bản pháp quy của tỉnh Lạng Sơn - Quyết định số 21/2009/QĐ-UBND ngày 08/12/2009 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc ban hành quy định về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. 5 - Quyết định số 09/2010/QĐ-UBND ngày 12/10/2010 của UBND tỉnh Lạng sơn về việc đính chính, sủa đổi, bổ sung quy định về cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ban hành kèm theo Quyết định số 21/2009/QĐ-UB ngày 08/12/2009 của UBND Tỉnh. - Quyết định số 12/2011/QĐ-UBND ngày 26/08/2011 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc ban hành đơn giá xây dựng mới nhà, công trình và vật kiến trúc áp dụng trong công tác bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn.
- Quyết định số 22/2011/QĐ-UBND ngày 21/12/2011 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc ban hành quy định về giá các loại đất năm 2012 trên địa bàn tỉnh Lạng sơn. - Quyết định số 04/2012/QĐ-UBND ngày 24/02/2012 của UBND tỉnh Lạng Sơn về việc ban hành đơn giá cây trồng, vật nuôi áp dụng trong công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn. Khái quát về công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng 2. Nhu cầu thu hồi đất, giải phóng mặt bằng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước CNH - HĐH và đô thị hoá là con đường phát triển của mọi quốc gia trên thế giới.
Trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển nhanh thì CNH - HĐH và đô thị hoá là con đường giúp cho các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với các nước đi trước. Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy, CNH - HĐH và đô thị hoá là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang phương thức sản xuất mới, hiện đại. Trong nền kinh tế hiện đại, CNH - HĐH và đô thị hoá có sự gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Trong quá trình CNH - HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay 6 đổi cơ bản đó là phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi căn bản xã hội nông thôn theo hướng công nghiệp.
Hiện tượng đô thị hoá được coi là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời đại ngày nay. Cùng với quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá được coi như một khía cạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội. Đô thị hoá là một quá trình lịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng cao vai trò của đô thị trong sự phát triển mọi mặt của xã hội.