Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Cơ sở lý luận của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Khái niệm về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư a) Bồi thường Luật Đất đai năm 2003 giải thích: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất” (Khoản 6, Điều 4) Luật Đất đai 2013 giải thích: ‘‘Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất’’ (Khoản 12, Điều 3).
Đền bù: là khái niệm dùng để chỉ sự “đền trả” lại những thiệt hại do một hoạt động của một chủ thể gây ra. khái niệm “đền bù” xuất hiện từ Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993. Từ khi Luật Đất đai năm 1993 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, Quốc hội đã thống nhất cụm từ “bồi thường” thay cho “đền bù” và “đền bù thiệt hại”. - Thu hồi đất: Là hành vi hành chính khi Nhà nước ra Quyết định hành chính để thu hồi lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, cá nhân, ủy ban nhân dân xã phường, thị trấn quản lý theo quy định của pháp luật.
b) Hỗ trợ, tái định cư Theo Luật Đất đai năm 2003: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề sớm, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới” (Khoản 7, Điều 4). Theo Luật Đất đai năm 2013: “Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc 4 Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và phát triển” (Khoản 14, Điều 3). - Tái định cư: Có thể khái quát rằng, tái định cư là việc bố trí chỗ ở mới cho người bị thu hồi đất mà không còn chỗ ở nào khác trong phạm vi cấp xã nơi có đất bị thu hồi và phải di chuyển chỗ ở. Hình thức tái định cư bao gồm: bằng nhà ở, bằng đất ở hoặc bằng tiền.
- Giải phóng mặt bằng: là quá trình thực hiện các công việc liên quan đến việc di dời nhà cửa, cây cối, các công trình xây dựng và một bộ phận dân cơ trên một phần đất nhất định được quy hoạch cho việc cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng một công trình mới. Quá trình giải phóng mặt bằng được tính từ khi bắt đầu hình thành hội đồng giải phóng mặt bằng đến khi giải phóng xong và giao cho chủ đầu tư mới (Phạm Phương Nam và Nguyễn Thanh Trà, 2011). Đặc điểm của quá trình bồi thường giải phóng mặt bằng Bồi thường giải phóng mặt bằng là công việc đa dạng, phức tạp vừa mang tính kỹ thuật, pháp luật và mang tính xã hội cao. Nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
- Tính đa dạng thể hiện: Mỗi dự án được thực hiện trên mỗi vùng đất khác nhau có điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí khác nhau. Các khu vực nội thị, khu vực ven đô, khu vực nông thôn. mật độ dân cư khác nhau, ngành nghề đa dạng và hoạt động sản xuất theo một đặc trưng riêng của vùng đó. Do đó, GPMB đối với từng vùng cũng có những điểm riêng biệt (Đặng Thái Sơn, 2002).
- Tính phức tạp thể hiện: Công tác GPMB có tác động lớn đến mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của người dân có đất bị thu hồi thực hiện dự án. Một số vấn đề ảnh hưởng đến công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất - Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó: Đất đai là đối tượng quản lý phức tạp, luôn biến động theo sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Để thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước về đất đai đòi hỏi các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực này phải mang tính ổn định cao và phù hợp với tình hình thực tế. Ở nước ta, do các đặc điểm lịch sử, kinh tế - xã hội của đất nước trong mấy thập kỷ qua có nhiều biến động lớn, nên chính sách về đất đai cũng không ngừng được sửa đổi, bổ sung.
Luật Đất đai đã được ra đời vào các năm 1987, 1993, 2003, 2013 và các văn bản dưới Luật đi kèm nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội đất nước trong từng thời kỳ. Theo đó, chính sách bồi thường, hỗ trợ cũng luôn được Chính phủ không ngừng hoàn thiện, sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu thực tế triển khai. Với những đổi mới về pháp luật đất đai, thời gian qua công tác thu hồi đất nông nghiệp đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, cơ bản đáp ứng được nhu cầu về mặt bằng cho việc phát triển các dự án đầu tư. Tuy nhiên, hệ thống chính sách pháp luật đất đai vẫn còn tồn tại một số vướng mắc trong thực tế.
Số lượng các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai nhiều, nhưng thiếu đồng bộ, thiếu ổn định. Một số văn bản quy phạm pháp luật về đất đai thuộc thẩm quyền địa phương ban hành còn chậm, nội dung hướng dẫn chưa rõ ràng, gây khó khăn cho việc thực hiện công tác quản lý nhà nước về đất đai. Đó chính là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự chậm trễ, ách tắc trong công tác giải quyết các mối quan hệ đất đai nói chung và giải phóng mặt bằng nói riêng. - Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Công tác thu hồi đất liên quan mật thiết đến công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất vì để ra quyết định thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cần phải căn cứ vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được các cấp có thẩm 6 quyền phê duyệt.
Ở nước ta, chất lượng lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các địa phương có nhiều tiến bộ nhưng thực sự chưa đạt yêu cầu đề ra. Tiến độ lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất các cấp, đặc biệt cấp huyện còn chậm. Nội dung quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất còn những bất cập về: phân định cấp độ, nội dung của quy hoạch sử dụng đất và kế hoạch sử dụngđất giữa các cấp; kết hợp giữa quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và quy hoạch xây dựng; gắn với mục tiêu phát triển bền vững, bảo đảm an ninh lương thực. Trong lập, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thiếu sự giám sát chặt chẽ, tuân thủ triệt để chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất phải là chỉ tiêu pháp lệnh; việc áp dụng các công nghệ tiên tiến còn nhiều hạn chế.
- Đăng ký đất đai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Ở nước ta, theo quy định của Luật Đất đai, người sử dụng đất phải đăng ký quyền sử dụng đất với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cấp GCNQSD đất. Trong công tác bồi thường bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, GCNQSD đất là căn cứ để xác định đối tượng được bồi thường, loại đất, diện tích đất tính bồi thường. Trong giai đoạn trước đây hệ thống đăng ký quyền sử dụng đất còn mang tính thủ công, thực hiện thiếu thống nhất ở các địa phương, công tác đo đạc lập bản đồ giải thửa có độ chính xác không cao. Cơ sở dữ liệu bản đồ, hồ sơ địa chính thiếu về số lượng và kém về chất lượng, được cập nhật không thường xuyên, chưa đáp ứng được yêu cầu quản lý đất đai nói chung và cho công tác GPMB nói riêng.
- Yếu tố giá đất và định giá đất: Ở nước ta, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giá cả đất đai là dựa trên chuyển nhượng quyền sử dụng đất, là tổng hòa giá trị hiện hành của địa tô nhiều năm được chi trả một lần, là hình thức thực hiện quyền sở hữu đất đai trong kinh tế. Theo luật đất đai 2013, giá đất là giá trị của quyền sử dụng đất tính trên một đơn vị diện tích đất. Thời gian vừa qua giá đất trên thị trường biến động mạnh, việc xác định giá đất quy định thường 7 thấp hơn nhiều giá trị thực của đất đai và chậm được sửa đổi, bổ sung. Giá đất do UBND cấp tỉnh quy định và xác định không phản ánh đúng và thường thấp hơn nhiều giá trị thực của đất đai.
Hiện nay, việc định giá đất chủ yếu sử dụng một số phương pháp truyền thống như các nước trên thế giới thực hiện, đó là phương pháp so sánh trực tiếp và phương pháp thu nhập. Định giá đất được hiểu là sự ước tính về giá trị của quyền sử dụng đất bằng hình thái tiền tệ cho một mục đích sử dụng đã được xác định, tại một thời điểm xác định. Theo quy định của Luật Đất đai 2013, nguyên tắc định giá đất là phải phù hợp với giá thị trường trong điều kiện bình thường. Hiện nay, giá đất do UBND các tỉnh quy định và ban hành đều không theo nguyên tắc đó, dẫn tới việc khiếu kiện của người dân làm chậm tiến độ trong việc GPMB khi Nhà nước thu hồi đất.
Như vậy, nếu công tác định giá đất để bồi thường GPMB không được quan tâm đúng mức sẽ làm cho công tác bồi thường GPMB trì trệ, dẫn tới việc không có mặt bằng đầu tư, làm chậm tiến độ triển khai dự án hoặc bỏ lỡ cơ hội đầu tư. Cơ sở pháp lý của công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất 1. Văn bản của trung ương - Luật Đất đai ngày 29 tháng 11 năm 2013: Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa VIII, Quốc hội đã biểu quyết thông qua Luật Đất đai năm 2013. Nhằm đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, giảm thiểu khiếu kiện trong bồi thường, GPMB, Luật Đất đai 2013 tiếp tục kế thừa những những quy định còn phù hợp của Luật đất đai 2003 đồng thời đã sửa đổi, bổ sung một số quy định mới nhằm đưa chính sách về bồi thường, hỗ trợ trong Nghị quyết 19/NQ-TW đi vào cuộc sống.