Luận văn đánh giá chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại xã dương quang gia lâm hà nội giai đoạn 2008 2010

Chuyên khảo phân tích Luận văn đánh giá chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại xã dương quang gia, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2010

117
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TÔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới và ở Việt Nam

1.2. Tình hình suy dinh dưỡng ở các nước trên thế giới

1.3. Tình hình suy dinh dưỡng ở Việt Nam

1.4. Phương pháp đánh giá tình trạng dinh dưỡng

1.5. Phân loại mức độ SDD theo tổ chức y tế thế giới (WHO)

1.6. Nguyên nhân của suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi

1.7. Hậu quả của suy dinh dưỡng

1.8. Tổng quan về các chương trình phòng chống SDD

1.9. Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em ở Việt Nam

1.10. Chương trình PCSDD ở Gia Lâm, Hà Nội

1.11. Chương trình PCSDDTE dưới 5 tuổi tại xã Dương Quang

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.3. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.4. Xác định chỉ số, biến số cần đánh giá

2.5. Phương pháp thu thập số liệu

2.6. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

2.7. Khía cạnh đạo đức của nghiên cứu

2.8. Hạn chế của nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ

3.1. Mục tiêu 1: Việc triển khai thực hiện, kết quả hoạt động, khó khăn thuận lợi

3.2. Mục tiêu 2: Kiến thức, thực hành chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi

3.3. Mục tiêu 3: Xu hướng SDD dưới 5 tuổi

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Việc triển khai, kết quả các hoạt động và những thuận lợi, khó khăn

4.2. Kiến thức, thực hành chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ của các bà mẹ có con dưới 5 tuổi tại xã Dương Quang, Gia Lâm, Hà Nội

4.3. Xu hướng SDD trẻ < 5 tuổi tại xã Dương Quang, Gia Lâm, Hà Nội qua 3 năm (2008 đến 2010)

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

5.1. Việc triển khai, kết quả hoạt động và những khó khăn thuận lợi

5.2. Kiến thức, thực hành của bà mẹ

5.3. Xu hướng SDD dưới 5 tuổi tại xã Dương Quang từ 2008 đến 2010

6. CHƯƠNG 6: KẾ HOẠCH PHỔ BIẾN KẾT QUẢ VÀ KHUYẾN NGHỊ

6.1. Kế hoạch phổ biến kết quả tới các bên liên quan: Phụ lục 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Các bên liên quan và mối quan tâm

Phụ lục 2: Câu hỏi và chỉ số đánh giá

Phụ lục 3: Các bên liên quan và hình thức phổ biến kết quả

Phụ lục 4: Khung lý thuyết đánh giá hoạt động chương trình PCSDD xã Dương Quang

Phụ lục 5: Danh sách điều tra viên và giám sát viên

Phụ lục 6: Phiếu phỏng vấn kiến thức, thực hành chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ của bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Phụ lục 7: Hướng dẫn phỏng vấn sâu CBCTDD huyện

Phụ lục 8: Hướng dẫn phỏng vấn sâu trưởng ban chỉ đạo PCSDD xã

Phụ lục 9: Hướng dẫn phỏng vấn sâu trạm trưởng trạm y tế xã

Phụ lục 10: Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ VHTT xã

Phụ lục 11: Hướng dẫn phỏng vấn sâu đại diện Hội phụ nữ xã

Phụ lục 12: Hướng dẫn phỏng vấn sâu cán bộ Đoàn thanh niên

Phụ lục 13: Hướng dẫn phỏng vấn sâu CBCTDD xã

Phụ lục 14: Hướng dẫn thảo luận nhóm CTVDD thôn

Phụ lục 15: Hướng dẫn thảo luận nhóm bà mẹ có con dưới 5 tuổi

Phụ lục 16: Bản đồ địa bàn nghiên cứu và các hình ảnh trong nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Đánh Giá Chương Trình Phòng Chống Suy Dinh Dưỡng Trẻ Em

Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Dương Quang, Gia Lâm, Hà Nội giai đoạn 2008-2010 là một nỗ lực quan trọng nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em. Suy dinh dưỡng là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ. Đánh giá chương trình này không chỉ giúp xác định hiệu quả của các hoạt động mà còn cung cấp thông tin cần thiết để điều chỉnh chính sách dinh dưỡng trong tương lai.

1.1. Tình Hình Suy Dinh Dưỡng Trẻ Em Tại Việt Nam

Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi tại Việt Nam vẫn còn cao, với tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân và thấp còi đáng lo ngại. Theo báo cáo của Viện Dinh dưỡng, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân năm 2009 là 18,9%, trong khi tỷ lệ thấp còi là 31,9%. Những con số này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình can thiệp hiệu quả.

1.2. Mục Tiêu Của Chương Trình Phòng Chống Suy Dinh Dưỡng

Mục tiêu chính của chương trình là giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi thông qua các hoạt động giáo dục dinh dưỡng, cung cấp thực phẩm bổ sung và tăng cường kiến thức cho các bà mẹ. Chương trình cũng nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của dinh dưỡng hợp lý trong giai đoạn phát triển đầu đời.

II. Vấn Đề Và Thách Thức Trong Phòng Chống Suy Dinh Dưỡng

Mặc dù chương trình đã đạt được một số kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em vẫn còn phổ biến, đặc biệt là ở những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Việc thiếu hụt kiến thức dinh dưỡng và thực hành chăm sóc trẻ cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng này.

2.1. Những Nguyên Nhân Gây Ra Suy Dinh Dưỡng

Nguyên nhân chính gây ra suy dinh dưỡng ở trẻ em bao gồm thiếu hụt thực phẩm, thiếu kiến thức về dinh dưỡng, và điều kiện sống không đảm bảo. Nhiều bà mẹ chưa có đủ thông tin về cách chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ, dẫn đến việc trẻ không được cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cần thiết.

2.2. Khó Khăn Trong Việc Triển Khai Chương Trình

Việc triển khai chương trình gặp nhiều khó khăn như thiếu nhân lực chuyên môn, kinh phí hạn hẹp và sự phối hợp giữa các bên liên quan chưa chặt chẽ. Điều này ảnh hưởng đến hiệu quả của các hoạt động phòng chống suy dinh dưỡng tại địa phương.

III. Phương Pháp Đánh Giá Chương Trình Phòng Chống Suy Dinh Dưỡng

Để đánh giá hiệu quả của chương trình, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp mô tả cắt ngang kết hợp với nghiên cứu định tính và định lượng. Các chỉ số dinh dưỡng được thu thập từ các bà mẹ có con dưới 5 tuổi, cùng với các phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm với các cán bộ y tế.

3.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế để thu thập dữ liệu từ các bà mẹ và trẻ em trong độ tuổi dưới 5. Phương pháp này cho phép đánh giá chính xác tình trạng dinh dưỡng và các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ.

3.2. Phương Pháp Thu Thập Dữ Liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn sâu và bảng hỏi có cấu trúc. Các cán bộ y tế và cộng tác viên dinh dưỡng đã tham gia vào quá trình thu thập thông tin, đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của dữ liệu.

IV. Kết Quả Đánh Giá Chương Trình Phòng Chống Suy Dinh Dưỡng

Kết quả đánh giá cho thấy chương trình đã đạt được một số thành công nhất định trong việc nâng cao nhận thức về dinh dưỡng cho các bà mẹ. Tuy nhiên, tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn cao, cho thấy cần có những biện pháp can thiệp mạnh mẽ hơn.

4.1. Kết Quả Hoạt Động Truyền Thông

Các hoạt động truyền thông đã giúp nâng cao nhận thức của cộng đồng về dinh dưỡng. Tuy nhiên, việc thực hành dinh dưỡng đúng cách vẫn còn hạn chế, cần có thêm các chương trình đào tạo cho bà mẹ.

4.2. Xu Hướng Suy Dinh Dưỡng Tại Xã Dương Quang

Từ năm 2008 đến 2010, tỷ lệ suy dinh dưỡng thể nhẹ cân có xu hướng giảm, nhưng tỷ lệ thấp còi vẫn còn cao. Điều này cho thấy cần có các biện pháp can thiệp kịp thời để cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho trẻ em.

V. Kết Luận Và Đề Xuất Cho Tương Lai

Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Dương Quang đã đạt được một số kết quả tích cực, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng để nâng cao hiệu quả của chương trình.

5.1. Đề Xuất Chính Sách Dinh Dưỡng

Cần xây dựng các chính sách dinh dưỡng phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, tập trung vào việc cung cấp thực phẩm bổ sung và giáo dục dinh dưỡng cho các bà mẹ.

5.2. Tương Lai Của Chương Trình Phòng Chống Suy Dinh Dưỡng

Chương trình cần được tiếp tục duy trì và mở rộng, với sự tham gia tích cực của cộng đồng và các tổ chức xã hội. Việc nâng cao nhận thức và thực hành dinh dưỡng đúng cách sẽ góp phần giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em.

14/07/2025
Luận văn đánh giá chương trình phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi tại xã dương quang gia lâm hà nội giai đoạn 2008 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới và ờ Việt Nam Suy dinh dưỡng Protein- Năng lượng (PEM) là loại thiểu dinh dưỡng quan trọng có ý nghĩa sức khỏe cộng đồng đổi với trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển. Suy dinh dưỡng Protein- Năng lượng không chỉ là tình trạng thiếu hụt protein và năng lượng mà còn thường kết họp với thiếu nhiều chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng[2]. Tình hình suy dinh dưỡng ở các nước trên thế giới Tại hội nghị thượng đỉnh về dinh dưỡng họp tại Roma tháng 12 năm 1992 cho thấy khoảng 20% dân số các nước đang phát triển lâm vào cảnh thiếu đói, 192 triệu trẻ em thiếu dinh dưỡng do thiếu Protein- Năng lượng.

Đại diện của 159 nước đã tuyên bố quyết tâm thanh toán nạn đói và đẩy lùi các bệnh SDD [42]. Thống kê tỷ lệ SDD trẻ em qua cuộc điều tra quốc gia từ năm 1980-1992 của 79 nước đang phát triển ở châu Phi, châu Á, Mỹ La tinh và châu Đại Dương cho thấy tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi chiếm 87% tổng dân số và hơn 1/3 trong số đó bị SDD Protein- Năng lượng tất cả các thể nhẹ cân, thấp còi, gầy còm. Trong đó 80% tổng số trẻ ở nam Á, 15% ở châu Phi, 5% ở Mỹ La tinh, xấp xỉ 43% trẻ (230 triệu) ở các nước đang phát triển SDD thể còi cọc [42]. Theo tổ chức y tế Thế giới (WHO), tỉ lệ trẻ em SDD năm 2000 của khu vực châu Á là 28,9% trong đó Trung Quốc: 10,0%, Thái Lan: 19,0%, Philippine: 28,0%, Indonesia: 34,0%, Bangladesh: 67,0%, Campuchia: 52,0%, Lào: 40,0% [14], “Báo cáo lần thứ tư về tình hình dinh dưỡng toàn cầu” năm 2000 của ACC/SCN/IFPRI cho thấy: Hàng năm có khoảng 30 triệu trẻ em được sinh ra ở các nước đang phát triển có độ lệch lạc về tăng trưởng vì hậu quả của SDD bào thai.

Trẻ đẻ đủ tháng có cân nặng sơ sinh rất thấp phổ biến và trầm trọng ở miền Nam Trung Á (21%), Trung Phi (15%), Tây Phi (11%). Khoảng 33% trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển bị SDD thể thấp còi [40]. 5 SDD là một bệnh phổ biến của toàn cầu, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Trên thế giới có 842 triệu trẻ SDD: 10 triệu ở các nước phát triển, 34 triệu ở các nước trung gian và 798 triệu ở các nước đang phát triển [32].

SDD là một vấn đề y tế công cộng quan trọng của nhiều nước trên thế giới. Theo UNICEF (2002), do đói nghèo và thiếu sự tiếp cận với dịch vụ xã hội cơ bản, hàng năm khoảng 150 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị SDD (chiếm 26,7% trẻ em trên thể giới), 20 triệu trẻ em bị SDD nặng với hơn 10 triệu trẻ em dưới 5 tuổi đã chết vì SDD và các bệnh có thể phòng chống được. Hậu quả của SDD gây ảnh hưởng đến nguồn nhân lực cũng như sự phát triển giống nòi cho tương lai [45]. Trong nhiều năm gần đây tỷ lệ SDD trẻ em dưới 5 tuổi có xu hướng giảm trên phạm vi toàn thế giới.

Theo số liệu điều tra 69 quốc gia năm 2009 trong 15 năm qua, tỷ lệ SDD thể nhẹ cân giảm 1,1%/năm, tỷ lệ SDD thể thấp còi giảm 0,5%/năm, trong đó các nước Đông Nam Á có tỷ lệ giảm nhanh nhất 0,9%/năm [44], 1. Tình hình suy dinh dưỡng ở Việt Nam Ket quả đánh giá hoạt động và hiệu quả của chương trình PCSDDTE giai đoạn 1990 -2004 do Nguyễn Công Khẩn Viện Dinh Dưỡng và cs tiến hành 5 cuộc khảo sát quốc gia cho thấy tỷ lệ SDD dưới 5 tuổi thể nhẹ cân (cân nặng/tuổi) giảm từ 45% năm 1990 xuống là 26,6% năm 2004, trung bình 1,3% mỗi năm trong giai đoạn 1990-2000 và 1,8% mỗi năm giai đoạn 2000 - 2004. Tỷ lệ SDD thể thấp còi (chiều cao/tuổi) giảm từ 56,5% năm 1990 xuống 30,7% năm 2004, trung bình 2% mỗi năm trong giai đoạn 1990-2000 và 1,5% giai đoạn 2000-2004. Tỷ lệ trẻ dưới 4 tháng tuổi được BMHT là 18,9% và đến 6 tháng tuổi là 12,4%tỷ lệ ăn bổ sung quá sớm trước 4 tháng tuổi là 23,1%, tỷ lệ trẻ được uống Vitamin (VTM) A là 89,4% và bà mẹ sau khi sinh uống VTM A là 61% [43].

Theo kết quả nghiên cứu năm 2000 của Lê Thị Hợp Viện Dinh dưỡng và cs về liên quan giữa bú mẹ hoàn toàn và sự phát triển thể chất của trẻ từ 1981-1984 thấy rằng mặc dù có 87,1% trẻ được bú mẹ trong ít nhất 1 năm đầu nhưng chỉ có 3,3% trẻ được bú mẹ hoàn toàn trong 4 tháng đầu [41]. 6 Theo kết quả điều tra của Viện Dinh dưỡng từ năm 2000 tới năm 2008, tỷ lệ SDD trẻ em đã giảm đi một cách rõ rệt, nếu như năm 2000 tỷ lệ SDD thể nhẹ cân ở trẻ em dưới 5 tuổi là 33,8% thì tới năm 2008 đã giảm còn 19,9% và tới năm 2009 chỉ còn 18,9%, mức giảm 1,5 - 2%/năm, là mức giảm nhanh so với một số nước trong khu vực [34], [35], Điển biến Suy dinh dưởng thế nhẹ cân (W/A) ỡ trè em dirới 5 tuổi trên toàn quốc tù’ 1999-2009 Underweight (W/A) Biểu đồ 1: Suy dinh dưỡng thể nhẹ cân trẻ<5 tuổi trên toàn quốc từ 1999-2009 [35]. Trong những năm qua nền kinh tế - xã hội thay đổi, đời sống người dân từng bước được cải thiện, chương trình PCSDDTE cùng với các chương trình quan trọng như tiêm chủng mở rộng, phòng chống thiếu VTM A , thiếu máu dinh dưỡng. đã trực tiếp ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ em.

Có thể nói SDD trẻ em đang từng bước bị đẩy lùi. Các thể SDD lâm sàng đưa đến tử vong cao như Marasmus, Kwashiokor, bệnh khô mắt do thiếu VTM A nay đã giảm hẳn, các kích thước về nhân trắc và tăng trưởng có chiều hướng gia tăng. Tình trạng SDD đã đã có chiều hướng từ nặng sang vừa và nhẹ, từ bệnh viện, trạm y tế ra cộng đồng [15]. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là một trong 20 nước có tỷ lệ SDD cao nhất thế giới.

Theo báo cáo tổng điều tra năm 2009 của Viện Dinh dưỡng tỷ lệ SDD toàn quốc thể nhẹ cân là 18,9% trong đó độ I là 16,7%, độ II là 2,1% và độ III là 0,1%. Tỷ lệ SDD thể thấp còi chung là 31,9% trong đó độ I là 18,1%, độ II là 13,8%. Tỷ lệ SDD thể gầy còm là 6,9%. Phân bố SDD ở Việt Nam không đồng đều, khu vực 7 miền núi, Tây Nguyên, miền Trung tỷ lệ cao hơn hẳn so với các vùng khác, nông thôn cao hơn thành thị, miền núi cao hơn đồng bằng, dân tộc thiểu số cao hơn các dân tộc khác, đặc biệt là các vùng thường xuyên xảy ra thiên tai, bão lụt.

Đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và miền đông Nam Bộ tỷ lệ SDD thấp dưới 20%, có nơi như Thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ SDD thể nhẹ cân có 5,3%, Đà Nang 9,9%; nhưng vùng Đông Bắc, Tây Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên tỷ lệ SDD vẫn còn cao hơn 20% như Kon Turn 29,5%, Đắc Nông 29,4%, Lai Châu 27,8%, Bắc Kạn 27,7% [34]. Bảng l:Tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 5 tuổi theo các mức độ năm 2009 [34] SDD nhẹ cân(%) SDD thấp còi (%) SDD Toàn quốc gầy và các khu N còm vực Chung ĐỘI Độ II Độ III Chung ĐỘI Độ II (chung )%) Toàn quốc 93.469 18,9 16,7 2,1 0,1 31,9 18,1 13,8 6,9 ĐB sông Hồng 13,128 16,7 15,7 1,0 0 27,8 17,9 9,9 6,6 Đông Bắc 19,684 22,3 19,9 2,3 0,1 34,8 22,5 12,3 7,0 Tây Bắc 4,413 24,6 22,0 2,5 0,1 35,7 21,0 14,7 7,8 Bắc Trung Bộ 9,053 22,9 21,2 1,6 0,1 34,3 22,1 12,2 6,9 Nam Trung Bộ 8,520 19,3 17,4 1,8 0,1 31,8 21,0 10,8 7,1 Tây Nguyên 4,500 28,5 25,6 2,8 0,1 39,2 22,8 16,4 7,3 Đông Nam Bộ 15,753 16,4 14,7 1,6 0,1 27,3 18,1 9,2 6,8 ĐB sông Cửu 18,418 18,7 16,8 1,9 0 29,1 17,2 11,9 6,7 Long Số liệu tổng điều tra quốc gia của Viện Dinh dưỡng năm 2009 8 Hiện tại SDD thể thấp còi của trẻ em còn là vấn đề hết sức nghiêm trọng với tỷ lệ 31,9%. Suy dinh dưỡng thấp còi đang khá phổ biến tại tất cả các vùng sinh thái trên cả nước [3]. Dí én t>ién Suy dính dương thé tháp CÔỀ (H/A) <> tre em dtról 5 tu ÔI trén toàn quóc tir 1999-2009 Biểu đồ 2: Suy dinh dưỡng thấp còi trẻ<5 tuổi trên toàn quốc từ 1999-2000 [35] Nghiên cứu tại Long Châu, Yên Phong, Bắc Ninh năm 2003 tỷ lệ SDD nhẹ cân là 35,8% ; kiến thức của bà mẹ về chăm sóc dinh dưỡng đạt 48% và thực hành của bà mẹ đạt 35%.

Tỷ lệ trẻ ăn bổ sung sớm cao 73,3%, số trẻ thường xuyên được ăn đủ 4 nhóm thực phẩm đạt 55% [6]. Nghiên cứu khác của Bùi Văn Bốn tại Thạch Hà, Hà Tĩnh tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 29%, thể thấp còi là 34,6% và thể gầy còm là 8,8% [5], Nghiên cứu của Lê Thị Hương năm 2007 tại huyện miền núi cẩm Thủy tỉnh Thanh Hóa kết quả tỷ lệ SDD dưới 5 tuổi thể nhẹ cân là 30,8%, thể thấp còi là 24,6% và gầy còm là 9,6%. Tỷ lệ bú sớm trong nửa giờ đầu là 70% và bú hoàn toàn đến 6 tháng tuổi là 19% [9]. Đánh giá tình trạng và một số yếu tố liên quan ở 392 trẻ 25-60 tháng tuổi tại 4 trường mầm non huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình có 121 trẻ SDD, tỷ lệ SDD nhẹ cân là 30,9%, thể thấp còi 33,7%, gầy còm 7,4%.

Các yếu tố liên quan: điều kiện kinh tế hộ nghèo tăng nguy cơ SDD lên 4,86 lần, thực hành chăm sóc dinh dưỡng không đạt tăng nguy cơ SDD 4,24 lần, không thường xuyên sử dụng thức ăn giàu đạm tăng nguy cơ SDD lên 5,17 lần và không tẩy giun định kỳ cho trẻ tăng nguy cơ SDD 3,4 lần [17]. Năm 2008 nghiên cứu của Trương Thị Kim tại Trung Chính, Lương Tài, Bắc Ninh tỷ lệ tham gia thực hành dinh dưỡng (THDD) chỉ đạt 37,3%, tỷ lệ bà mẹ có kiến thức cho trẻ bú sớm trong 30 phút sau sinh là 61,3% nhưng thực hành chỉ đạt 46,7%. Tỷ lệ bà mẹ có kiến thức cho con bú hoàn toàn trong 4-6 tháng đầu là 45,3% nhưng tỷ lệ thực hành chỉ 10,6% [16].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ