phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ NỘI DUNG CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG QUAN LẠI CỦA LÊ THÁNH TÔNG 1. Bối cảnh ra đời chính sách đào tạo và sử dụng quan lại của Lê Thánh Tông. Điều kiện khách quan Tình hình chính trị Cuối thời nhà Hồ, khi đó nội trị trong nước tình hình rối ren đã tạo điều kiện cho giặc ngoài cơ hội nhòm ngó và thực hiện mưu đồ xâm lược.
Năm 1404, quân Minh lấy cớ phù Trần diệt Hồ chính thức sang xâm lược nước ta với quy mô lớn, cha con Hồ Quý Ly bị bắt về Trung Quốc. Nước Đại Việt rơi vào tay giặc. Suốt 20 năm nhân dân ta bị nô dịch dưới ách thống trị của giặc Minh, chúng muốn đồng hóa Đại Việt, chúng chia nước ta ra làm 15 phủ, mỗi phủ chia thành nhiều huyện và châu. Nhân dân không thể sống trong áp bức, bóc lột mãi được nên các cuộc khởi nghĩa đã liên tiếp nổ ra nhưng đều thất bại.
Nhưng thời thế tạo anh hùng, tới mùa xuân năm Mậu Tuất - 1418, Lê Lợi cùng những hào kiệt, được sự ủng hộ, đồng thuận, chung chí hướng là Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú v.nổi dậy phất cờ khởi nghĩa ở Lam Sơn, xưng là Bình Định Vương, kêu gọi nhân dân đồng lòng đứng lên đánh giặc cứu nước. Trải qua 10 năm chờ đợi thời cơ, chuẩn bị lực lượng, chiến đấu với quân giặc vào sinh ra tử, Lê Lợi đã thực thi chiến lược tấn công của Nguyễn Trãi, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Minh đi tới thắng lợi. Trong sáchĐại Việt sử ký toàn thưvẫn còn lưu lại cụ thể công lao to lớn của ông trong việc dựng nước mà giữ nước, là người có tài trí, mở mang cơ nghiệp của Đại Việt nói chung và nhà Lê sơ nói riêng. Ngày 15/4/1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế, xưng hiệu là Lê Thái Tổ.
Ông đổi lại quốc hiệu từ Giao Chỉ (tồn tại dưới thời nhà Minh) thành Đại Việt, ông quyết định đóng đô ở Thăng Long, đổi tên kinh thành Thăng Long thành Đông Kinh, Tây 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đô thành Tây Kinh, Tây Kinh về sau đều gọi là Lam Kinh, nhà Lê sơ chính thức được thành lập. Nhà Lê sơ đãchủ trương lấy Nho giáo làm cốt tủy của hệ tư tưởng chính trị, xây dựng bộ máy nhà nước theo mô hình nhà nước trung ương tập quyền chuyên chế và hoàn chỉnh dần theo mô hình Nho giáo. Theo học thuyết Nho giáo có bảng giá trị khác với Phật giáo, học thuyết Nho giáo tôn vua ở mức độ cao nhất, vua là Thiên tử, là người nắm mọi quyền hành, giúp vua có 6 bộ (là Lại, Hộ, lễ, Binh, Hình, Công), đứng đầu mỗi bộ có quan Thượng thư, bên cạnh bộ có Hàn Lâm Viện (công văn), Quốc sử viện (biên soạn lịch sử), Ngự sử đài (kiểm tra). Lê Thái Tổ với sự tham chính của Nguyễn Trãi và các Nho thần thực hiện hàng loạt các cuộc cải cách để thay đổi tình hình toàn diện đất nước lúc bấy giờ thông qua các chiếu, chỉ, lệnh thi hành cải cách.
Ông quản lý các lĩnh vực, sát sao các vùng khác nhau theo địa vực, chia cả nước thành 5 đạo: Đông Đạo, Tây Đạo, Nam Đạo, Bắc Đạo và Hải Tây Đạo. Đứng đầu mỗi đạo là hành khiển để giữ sổ sách về việc quân - dân, bên cạnh là tổng quản chỉ huy vệ quân trong đạo. Trấn, lộ, phủ, huyện, châu là các đơn vị hành chính dưới đạo. Các chức quan của hệ thống hành chính được đặt rõ: đứng đầu trấn là trấn phủ sứ, tuyên úy sứ; ở lộ là an phủ sứ, tổng quản; ở phủ là tri phủ; huyện là chuyển vận sứ; châu là phòng ngự sứ.
Đơn vị hành chính nhỏ nhất là xã. Vua Lê Thái Tổ chia xã làm ba loại là đại xã, trung xã và tiểu xã. Bộ máy hành chính nhà nước lúc này khá chặt chẽ, hoàn bị chi phối tới cả cấp xã, xã là đơn vị cấp cơ sở. Ngày 22/8/1433, Lê Lợi mất, Lê Thái Tông lên kế vị, Lê Sát là công thần cao được ban quyền phụ chính.
Triều đình có nhiều mâu thuẫn xảy ra nên Lê Thái Tông dựa vào tư tưởng Nho giáo đã ra tay dẹp bỏ quyền thần, giành lấy quyền tư pháp và càng ngày càng khắt khe đối với các công thần. Sau khi quyền lực về tay, ông đã ban nhiều chỉ dụ chỉnh đốn việc hành chính, giáo dục, thi cử ở các đạo, khiến các quan lại chuyên tâm vào chính sự. Ông đề ra nhiều chính sách thay đổi hệ thống tổ chức quan lại, đặt lại nguyên tắc và kèm theo đặt ra thế chế cho chế độ thi cử theo Nho giáo để lấy người có học. Vua đưa con thứ là Bang Cơ lên làm Thái tử.
Năm 1442, Lê Thái Tông mất, Bang Cơ khi đó mới 2 tuổi lên ngôi Hoàng đế là vua Lê Nhân Tông. Vì vua còn quá nhỏ nên Thái hậu Nguyễn Thị Anh đã buông rèm nhiếp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính, họ ngoại dường như nắm quyền lực trong tay. Tuy nhiên, những chính sách cai trị đất nước của bà đưa ra chưa có hiệu quả, chúng mang tính tư lợi, tình hình triều đình lục đục và dân chúng càng trở nên khốn đốn hơn, công thần bị chém giết vô cớ, tham ô hối lộ công khai và người dân rơi vào lầm than, cực khổ. Tới năm 12 tuổi, vua Lê Nhân Tông mới chính thức được nắm quyền, ông đã thay đổi chính sách, đưa ra quy định mới khiến tình hình ổn định hơn.
Ông truy tặng cho các công thần khai quốc của triều Hậu Lê, việc này về sau được Lê Thánh Tông tiếp tục kế thừa và phát huy. Lê Nhân Tông là một vị vua nhân từ và sáng suốt được các bậc quần thần yêu mến. Tới ngày 3/10/1459, Lê Nghi Dân (Lạng Sơn Vương) là người anh cùng cha khác mẹ của Lê Nhân Tông đã đảo chính, giết hại vua và thái hậu và cướp ngôi báu. Ông lên ngôi Hoàng đế và đặt niên hiệu là Thiên Hưng.
Tháng 2 năm 1460, Nghi Dân bàn việc đặt phủ huyện, lại đặt 6 bộ (Lại, Lễ, Bộ, Binh, Hình, Công), 6 khoa (Trung thư, Hải, Đông, Tây, Nam, Bắc) và các quan ở phủ, huyện, châu. Năm 1460, các tể tướng là Đỗ Bí, Lê Ngang, Lê Thu đã bàn kế hoạch lật đổ Thiên Hưng đế nhưng bị bại lộ, nên vua Nghi Dân đã bắt giết và đề phòng nhiều hơn bằng cách đưa ra chỉ dụ và nhiều pháp chế hà khắc, làm nhiều người oán giận, không được lòng quan lại và dân chúng. Tháng 6 năm 1460 Nguyễn Xí đã phát lệnh dẫn quân vào giết khoảng 100 người bề tôi thân cận của Nghi Dân. Sau đó, lật đổ Nghi Dân, truất làm Lê Đức hầu và cho ra khỏi cung, trao cho một dải lụa để tự vẫn.
Ngày hôm ấy, các đại thần đem kiệu đến rước Gia Vương là Lê Tư Thành, tức con trai thứ tư của Lê Thái Tông để trao ngôi báu, tức hoàng đế Lê Thánh Tông. Nhà vua Lê Thánh Tông lên ngôi và cai trị trong vòng 38 năm (1460- 1497) và trong ngần ấy năm cầm quyền Lê Thánh Tông đã cải cách đất nước, biến Đại Việt thành một quốc gia phát triển rực rỡ về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục… thành một vương quốc có tiếng nói trong khu vực Đông Nam Á, cũng như đã khiến quân chủ chuyên chế Việt Nam đạt tới đỉnh cao. Ngay từ khi mới lên ngôi, Lê Thánh Tông đã dốc sức cải cách mọi mặt đời sống. Về vấn đề hành chính, bộ máy nhà nước tổ chức thành 6 bộ: Lại, Lễ, Hộ, Binh, Hình, Công.
Rút bài học về sự lộng quyền đời trước, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ông tiến hành xóa bỏ chức tướng quốc, đại tổng quản, hành khiển; trực tiếp làm tổng chỉ huy quân đội, cấm các quan lập quân đội riêng. Ông xóa chế độ hành chính cũ từ thời Lê Thái Tổ từ 5 đạo, ông chia cả nước ra làm 13 đạo thừa tuyên, mỗi thừa tuyên do 3 ty cai quản là Đô ty (quân sự), Hiến ty (xử án), Thừa ty (hành chánh); hành chính ở địa phương,dưới đạo có phủ , huyện, châu (miền núi), xã. Vua Lê Thánh Tông đã kế thừa và cải tổ hệ thống quan lại và chính sách đào tạo đội ngũ quan lại của nhà nước quân chủ tập quyền Như vậy, từ thời Lê Thái Tổ cho tới Lê Thánh Tông trị vì thì vận động theo xu hướng các vị vua đều hướng tới xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền quan liêu. Đến thời Lê Thánh Tông thì có sự hoàn thiện nhất và thể hiện rõ rệt nhất được ưu điểm của mô hình đó.
Nhìn nhận một cách sâu sắc được những bài học cai trị đất nước của các vương triều trước nhất là những thiếu sót của nhà nước cuối thời Trần, Hồ nên từ khi lên ngôi Lê Thái Tổ đã có cho xây dựng nhà nước quân chủ tập quyền thay thế nhà nước quý tộc tản quyền trước đó. Ông đã biết được rằng nhà nước đó đã không đáp ứng được những yêu cầu tập trung quyền lực phát triển của xã hội, cần phải loại bỏ và tạo dựng nhà nước mới phù hợp với thời cuộc thì mới vực dậy được nước nhà. Ông lấy học thuyết Nho giáo làm cơ sở để đưa ra các chính sách xã hội và đặc biệt là xây dựng nền giáo dục Nho học. Có được nền tảng từ thời Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông, đến thời Lê Thánh Tông chính sách đào tạo đội ngũ quan lại theo mô hinh giáo dục Nho học được nâng lên tầm cao mới và mô hình nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền được kiện toàn hơn bao giờ hết, thể hiện rõ ràng những mặt ưu việt trong chính sách của mọi mặt đời sống.
Trong luận văn này chúng tôi tiếp tục làm rõ những đóng góp và cả mặt hạn chế trong chính sách đào tạo và sử dụng quan lại thời Lê Thánh Tông. Tình hình kinh tế Đến thời Lê sơ, sau khi giành được đất nước từ tay giặc Minh, vua Lê Thái Tổ đã đề ra nhiều chính sách cải cách khuyến khích nông nghiệp, khôi phục lại sản xuất để nền kinh tế thoát khỏi tình trạng đình trệ, thúc đẩy thông thương. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Về nông nghiệp, nông thôn Đại Việt trước Lê sơ từng tồn tại loại hình kinh tế đại điền trang với kiểu bóc lột nông nô nô tỳ thời Lý, Trần.